Yêu cầu mới về nhân lực
Khu vực Tây Bắc (gồm Điện Biên, Sơn La, Lai Châu và Lào Cai) - vùng không gian đặc biệt của đất nước, nơi hội tụ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa và tiềm năng phát triển, nhưng cũng đối mặt với thách thức lớn về địa hình, hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực. Trong nhiều năm, câu chuyện giáo dục ở Tây Bắc thường xoay quanh phổ cập, duy trì sĩ số và đưa trẻ em đến trường. Đó là bước tiến căn bản và đáng trân trọng.
Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới, khi các tuyến cao tốc, khu công nghiệp, đô thị du lịch và nông nghiệp công nghệ cao dần hiện hữu, bài toán đặt ra không còn dừng ở “đi học” mà là “học để làm gì, học để trở thành ai”.
Thực tiễn phát triển cho thấy, tăng trưởng kinh tế không thể chỉ dựa vào vốn đầu tư hay tài nguyên sẵn có. Hạ tầng có thể xây nhanh, nhưng con người phải được chuẩn bị lâu dài. Nếu thiếu đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đặc biệt nhân lực người dân tộc thiểu số hiểu địa bàn, văn hóa và nhu cầu cộng đồng, thì mọi chiến lược phát triển dễ rơi vào tình trạng “thiếu người làm việc”, hoặc phụ thuộc quá lớn vào nguồn nhân lực từ bên ngoài.
Đại hội Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XV đã thẳng thắn chỉ ra thực tế: Mặt bằng dân trí và chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, chênh lệch lớn giữa đô thị và nông thôn, vùng thuận lợi và đặc biệt khó khăn. Nhận diện này không nhằm nhấn mạnh hạn chế, mà để khẳng định yêu cầu cấp bách là xây dựng đội ngũ nhân lực dân tộc thiểu số đủ trình độ, kỹ năng và khát vọng cống hiến ngay trên mảnh đất của mình.
Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2026 của UBND tỉnh Điện Biên (15/1/2026), Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Lương nhiều lần nhấn mạnh kịch bản tăng trưởng trên 11% chỉ khả thi khi nguồn nhân lực được chuẩn bị đủ và đúng. Ông cho rằng các dự án chiến lược như cao tốc Sơn La - Điện Biên - Tây Trang, cấp điện nông thôn hay xây dựng 10 trường liên cấp mới đều cần đội ngũ lao động kỹ thuật, giáo viên, cán bộ quản lý và chuyên gia tại chỗ đủ năng lực vận hành.
Ở góc độ giám sát và định hướng chính sách, Chủ tịch HĐND tỉnh Lê Thành Đô đặt vấn đề về trách nhiệm của hệ thống chính trị đối với chất lượng nhân lực. Ông yêu cầu siết chặt kỷ cương hành chính, nâng cao năng lực cán bộ và coi kết quả tăng trưởng, hiệu quả giải ngân đầu tư công là thước đo đánh giá người đứng đầu. Điều đó cho thấy, đào tạo nhân lực dân tộc thiểu số không phải là nhiệm vụ riêng của ngành Giáo dục, mà là chiến lược xuyên suốt của cả bộ máy.
Nhìn toàn vùng, Tây Bắc đang chuyển từ giai đoạn mở rộng cơ hội học tập sang nâng tầm chất lượng nhân lực. Đây chính là điểm tựa để vùng đất giàu tiềm năng này bứt phá trong kỷ nguyên mới.
“Bệ đỡ” tạo nguồn trí thức bản địa
Nếu tìm một minh chứng rõ nét cho chiến lược tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số từ giáo dục phổ thông, Lai Châu là trường hợp tiêu biểu. Trên những sườn núi cao, hệ thống trường nội trú và bán trú đã trở thành “ngôi nhà thứ hai” của hàng vạn học sinh người Mông, Dao, Thái, Hà Nhì… Các em không chỉ học chữ mà còn được rèn luyện nề nếp, kỹ năng sống và tinh thần kỷ luật.
Sau hơn 20 năm chia tách tỉnh, mạng lưới bán trú của Lai Châu đã mở rộng vượt bậc, hiện có 41.384 học sinh bán trú, với 9 trường nội trú THPT, 85 trường PTDTBT và 62 trường phổ thông có học sinh bán trú, tăng mạnh so với 54 trường bán trú cách đây hai thập niên. Con số này phản ánh quyết tâm lâu dài của địa phương trong việc giữ chân học sinh vùng cao ở lại trường.
Không chỉ mở rộng quy mô, Lai Châu còn ban hành nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực. Nghị quyết 35/2016 của HĐND tỉnh đã hỗ trợ hơn 91.000 lượt học sinh với tổng kinh phí 8,7 tỷ đồng; Nghị quyết 04/2022 tiếp tục hỗ trợ hơn 32.000 lượt học sinh với trên 42 tỷ đồng. Theo ông Mạc Quang Dũng - Giám đốc Sở GD&ĐT Lai Châu, mô hình nội trú - bán trú chính là “bệ đỡ” giúp học sinh dân tộc thiểu số duy trì việc học, từ đó tạo nguồn nhân lực trẻ cho phát triển vùng cao.
Bước ngoặt mới của Lai Châu là việc triển khai xây dựng 11 trường nội trú liên cấp tiểu học - THCS theo Thông báo số 81 của Bộ Chính trị. Năm 2025, 5 trường đã khởi công, dự kiến đưa vào sử dụng năm học 2026 - 2027; các trường còn lại sẽ hoàn thiện trong năm 2026. Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Tống Thanh Hải nhấn mạnh: Các công trình này không chỉ là phòng học, mà còn trở thành không gian giáo dục toàn diện với khu ở, nhà ăn, nước sạch và thiết bị hiện đại.
Từ những mái trường ấy, nhiều thế hệ học sinh Lai Châu đã trưởng thành bác sĩ, giáo viên, sĩ quan quân đội, kỹ sư, cán bộ quản lý tại địa phương. Họ mang theo kiến thức chuyên môn, nhưng quan trọng hơn là hiểu biết sâu sắc văn hóa bản địa - điều mà không nguồn nhân lực bên ngoài nào có thể thay thế. Lai Châu vì thế không chỉ “nuôi” học sinh đến tốt nghiệp, mà đang hình thành lớp trí thức bản địa cho tương lai.
Đào tạo gắn với thị trường lao động
Nếu Lai Châu mạnh ở khâu tạo nguồn phổ thông, thì Lào Cai lại nổi bật với mô hình liên kết đào tạo gắn trực tiếp với thị trường lao động tại chỗ. Ngày 25/10/2025, Tỉnh ủy Lào Cai ban hành Kế hoạch 10-KH/TU đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt 75% lao động qua đào tạo, trong đó 36% có bằng cấp, chứng chỉ, một mục tiêu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế địa phương.
Theo ông Nguyễn Minh Thuận - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Lào Cai, giáo dục nghề nghiệp được xác định là chìa khóa chuyển hóa lợi thế tài nguyên thành lợi thế nhân lực. Tỉnh triển khai hệ thống giáo dục “mở”, liên thông thực chất giữa phổ thông - giáo dục thường xuyên - giáo dục nghề nghiệp - đại học; đồng thời đào tạo theo “đơn đặt hàng” của doanh nghiệp, lấy doanh nghiệp làm trung tâm đánh giá chất lượng.
Điểm đột phá là cơ chế công nhận kinh nghiệm thực tiễn. Một lao động dân tộc thiểu số đã làm việc nhiều năm có thể quay lại học nâng bậc trình độ mà không phải học lại từ đầu. Điều này vừa tiết kiệm thời gian, vừa khuyến khích học tập suốt đời - yếu tố đặc biệt quan trọng với người lao động vùng cao.
Lào Cai tập trung đào tạo các ngành thế mạnh như du lịch - dịch vụ, logistics, kinh tế cửa khẩu, công nghiệp chế biến và nông nghiệp công nghệ cao. Nhiều học viên được tạo điều kiện thực tập tại doanh nghiệp ngay trong tỉnh, giúp họ có việc làm ổn định mà không phải rời quê hương.
Cách làm này rất phù hợp với định hướng của Điện Biên. Khi các dự án hạ tầng lớn được triển khai, nhu cầu lao động kỹ thuật, dịch vụ và quản lý sẽ tăng mạnh. Nếu không chuẩn bị nhân lực từ sớm, địa phương dễ rơi vào tình trạng thiếu lao động có kỹ năng. Lào Cai vì thế cung cấp một mô hình tham chiếu quan trọng cho cả vùng Tây Bắc.
Nhân lực số trong nông nghiệp công nghệ cao
Sơn La đang chuyển mình mạnh mẽ sang nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Toàn tỉnh hiện có 264 ha canh tác hữu cơ, 5.596 ha đạt VietGAP, 23.448 ha cà phê chứng nhận bền vững và 216 mã số vùng trồng xuất khẩu. Những con số này chỉ thực sự phát huy giá trị khi có đội ngũ kỹ thuật viên và quản lý là người địa phương đủ năng lực vận hành công nghệ.
Một minh chứng sống động là ông Lèo Văn Lếch - Giám đốc Hợp tác xã Thành Cương (Mai Sơn). Từng quen với canh tác truyền thống, ông đã tham gia các lớp tập huấn chuyển đổi số do tỉnh tổ chức. Nhờ đó, ông biết sử dụng Zalo, Facebook và các ứng dụng nông nghiệp số để quản lý vùng trồng, điều khiển hệ thống tưới tự động, truy xuất nguồn gốc và quảng bá sản phẩm. Ông khẳng định sản lượng và thu nhập của hợp tác xã tăng gấp 2-3 lần so với trước đây.
Theo bà Cầm Thị Phong - Phó Giám đốc Sở NN&MT Sơn La, với hơn 85% diện tích đồi núi dốc, tỉnh buộc phải phát triển mô hình nông - lâm kết hợp ứng dụng công nghệ tự động hóa và sinh học để nâng cao thu nhập cho đồng bào vùng sâu. Nhờ đó, nhiều hộ dân đã đạt thu nhập 200-400 triệu đồng mỗi năm từ cây ăn quả, cà phê và chè.
Từ thực tiễn Sơn La, một tầng nhân lực mới đang hình thành: Nhân lực số trong nông nghiệp, những kỹ thuật viên, quản lý hợp tác xã là người dân tộc thiểu số, có thể vận hành hệ thống tưới thông minh, quản lý mã vùng trồng, xây dựng thương hiệu và phát triển thương mại điện tử. Đây là trụ cột mới của kinh tế Tây Bắc trong kỷ nguyên số.
Khung thể chế và đòn bẩy chính sách
Điện Biên hiện có 480 trường với hơn 209.000 học sinh, trong đó học sinh người dân tộc thiểu số chiếm trên 86%. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được duy trì và phát triển ổn định với hơn 51.000 học sinh bán trú và 4.500 học sinh nội trú.
Tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm 2025 đạt 99,82% - kết quả đáng ghi nhận trong điều kiện địa hình khó khăn và cơ sở vật chất còn hạn chế. Những con số này cho thấy Điện Biên đã tạo được nền tảng giáo dục quan trọng để bước sang giai đoạn nâng cao chất lượng nhân lực.
Ông Cù Huy Hoàn - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Điện Biên cho biết: Năm 2025 ngành đã có nhiều điểm mới, sáng tạo trong quản lý và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ. Nổi bật là việc tham mưu HĐND tỉnh ban hành nghị quyết về mức học phí và hỗ trợ học phí; hoàn thiện đề án thành lập Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Điện Biên; triển khai nghiêm túc chủ trương xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp ở các xã biên giới theo Thông báo 81 của Bộ Chính trị.
Đặc biệt, Điện Biên là một trong những địa phương tiên phong trên cả nước khi tổ chức tập huấn ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cho hơn 13.600 cán bộ quản lý và giáo viên, góp phần hiện đại hóa phương pháp dạy học và quản trị giáo dục. Theo ông Cù Huy Hoàn, việc phổ cập AI không chỉ nâng cao năng lực chuyên môn của giáo viên mà còn giúp học sinh vùng cao tiếp cận phương pháp học tập hiện đại, tiệm cận với mặt bằng chung của cả nước.
Cùng đó, Sở GD&ĐT Điện Biên đã chủ động nắm bắt tỷ lệ huy động trẻ ra lớp từng ngày, tuần; triển khai dạy tiếng Việt cho trẻ trước khi vào lớp 1; tổ chức các kỳ thi nghiêm túc, an toàn; và phối hợp với địa phương để khắc phục tình trạng thiếu giáo viên. Những nỗ lực này tạo nền tảng vững chắc cho chiến lược đào tạo nhân lực dân tộc thiểu số dài hạn.
Trong bức tranh tổng thể, Điện Biên không chỉ tập trung vào giáo dục phổ thông mà còn phát triển đào tạo đại học, nghề tại chỗ thông qua Phân hiệu Đại học Thái Nguyên và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Đây chính là mắt xích quan trọng để chuyển hóa nguồn nhân lực dân tộc thiểu số từ “được đào tạo” thành “có việc làm và cống hiến tại địa phương”.
Nhìn tổng thể, Tây Bắc đang hình thành một chuỗi giá trị nhân lực liên hoàn: Lai Châu tạo nguồn từ giáo dục nội trú - bán trú; Lào Cai đào tạo nghề gắn thị trường lao động tại chỗ; Sơn La phát triển nhân lực số trong nông nghiệp; Điện Biên kiến tạo khung thể chế và đầu tư chiến lược.
Đề án 2776/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số càng củng cố hướng đi này, với mục tiêu tuyển mới 2.000-2.500 sinh viên dân tộc thiểu số mỗi năm, tăng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ tối thiểu 10%/năm, ưu tiên các ngành y tế, công nghệ thông tin, nông nghiệp, giáo dục và du lịch.
Nhưng thành công không chỉ nằm ở số lượng đào tạo, mà ở khả năng quay trở lại phục vụ cộng đồng. Khi trong bản làng có bác sĩ, kỹ sư, nhà quản lý là người dân tộc thiểu số, niềm tin của người dân vào chính sách sẽ mạnh hơn, sự đổi thay bền bỉ hơn và bản sắc văn hóa được bảo tồn trong quá trình hiện đại hóa.
Ông Cù Huy Hoàn - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Điện Biên nhận định, đổi mới quản lý giáo dục, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên là chìa khóa để thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa vùng thuận lợi và khó khăn. Khi giáo viên được trang bị tốt hơn, học sinh vùng dân tộc thiểu số sẽ có cơ hội tiếp cận tri thức hiện đại, từ đó hình thành thế hệ nhân lực bản địa đủ năng lực dẫn dắt sự phát triển của Tây Bắc. Đó chính là cơ hội bứt phá của Tây Bắc trong kỷ nguyên mới.