Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc, giáo dục học sinh ở các địa bàn miền núi, vùng sâu, xa.
Mở rộng đối tượng, nâng mức hỗ trợ
Ngày 1/5/2025, Nghị định số 66/2025/NĐ-CP (Nghị định 66) của Chính phủ chính thức có hiệu lực, thay thế Nghị định số 116/2016/NĐ-CP, quy định chính sách đối với trẻ nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bãi ngang, ven biển và hải đảo.
Ngay khi ban hành, Nghị định 66 được đánh giá là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội, góp phần bảo đảm công bằng trong tiếp cận và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở những địa bàn còn nhiều khó khăn.
Thực tiễn triển khai tại nhiều địa phương cho thấy, Nghị định 66 không chỉ mở rộng đối tượng thụ hưởng mà còn nâng mức hỗ trợ, bổ sung nhiều nội dung thiết thực, qua đó tạo điều kiện tốt hơn cho học sinh ổn định học tập, giảm tỷ lệ bỏ học và nâng cao chất lượng dạy học ở vùng khó.
Điểm mới nổi bật của Nghị định 66 là mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách, đặc biệt trẻ em nhà trẻ tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo.
Theo quy định mới, trẻ nhà trẻ thuộc diện thụ hưởng được hỗ trợ tiền ăn trưa 360.000 đồng/tháng, tối đa không quá 9 tháng/năm học. Mức hỗ trợ này cao hơn đáng kể so với nhiều chính sách trước đây, giúp giảm gánh nặng chi phí cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục mầm non nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ.
Tại điểm trường Hoan, Trường Mầm non Cây Thị (xã Nam Hòa, Thái Nguyên) có 67 trẻ mầm non, chủ yếu con em đồng bào dân tộc Dao, Nghị định 66 tạo sự phấn khởi cho phụ huynh và nhà trường khi năm học này, có 10 trẻ nhà trẻ được hưởng chính sách hỗ trợ theo Nghị định.
Chị Hoàng Thị Loan, phụ huynh có con học lớp nhà trẻ tại xóm Hoan, chia sẻ: “Gia đình tôi làm nông nghiệp, thu nhập bấp bênh. Trước đây, gia đình e ngại khi cho con đi học do điều kiện kinh tế khó khăn. Nay có chính sách hỗ trợ, phụ huynh tin tưởng vào nhà trường, trẻ được đến lớp đều đặn hơn”.
Theo bà Nguyễn Thị Phương Oanh - Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Cây Thị, việc mở rộng đối tượng thụ hưởng đối với trẻ nhà trẻ là điểm mới nhân văn của Nghị định 66. “Mỗi trẻ được hỗ trợ tiền ăn trưa 360.000 đồng/tháng, mức hỗ trợ này giúp phụ huynh giảm bớt gánh nặng kinh tế, đồng thời tạo điều kiện để nhà trường nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ”, bà Oanh cho biết.
Không chỉ ở bậc mầm non, chính sách theo Nghị định 66 còn phát huy hiệu quả rõ nét tại các trường phổ thông dân tộc bán trú. Trường PT DTBT Tiểu học và THCS Kim Hỷ (xã Văn Lang, tỉnh Thái Nguyên) hiện có 218 học sinh, trong đó 132 em được hưởng chính sách theo Nghị định 66.
Bà Chu Thị Thái Hà - Hiệu trưởng cho biết: Việc bổ sung và nâng mức các chế độ hỗ trợ giúp công tác nuôi dưỡng, chăm sóc học sinh bán trú được bảo đảm tốt hơn. “Nhiều gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đã giảm được gánh nặng chi phí ăn ở cho con em. Nhờ đó, tỷ lệ chuyên cần của học sinh duy trì ổn định, chất lượng dạy học từng bước nâng lên”, bà Hà chia sẻ.
Theo bà Hà, khi đời sống của học sinh được bảo đảm, đội ngũ giáo viên có thêm điều kiện để tập trung vào chuyên môn, đổi mới phương pháp giảng dạy, tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện, phù hợp với đặc thù vùng cao.
Đồng quan điểm, ông Điêu Chính Quỳnh - Hiệu trưởng Trường THCS bán trú Tà Hộc (Sơn La) cho biết: “Nghị định 66 giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, ăn ở cho học sinh bán trú. Mức hỗ trợ tiền ăn, tiền nhà ở và gạo tăng lên đã cải thiện đáng kể chất lượng bữa ăn và điều kiện sinh hoạt, giúp các em yên tâm học tập”.
Theo ông Quỳnh, việc nâng mức hỗ trợ tiền ăn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với trẻ em vùng sâu, xa, nơi điều kiện dinh dưỡng còn hạn chế. Chính sách này giúp phụ huynh, nhất là các hộ nghèo, cận nghèo, giảm bớt gánh nặng chi phí khi cho con em đến trường.
“Chìa khóa” duy trì sĩ số ở vùng khó
Tại Trường Mầm non Lao Chải (xã Lao Chải, Tuyên Quang), 100% học sinh là con em đồng bào dân tộc Mông. Năm học 2025 – 2026, trẻ em độ tuổi nhà trẻ được đưa vào diện thụ hưởng chính sách theo Nghị định 66.
Bà Nguyễn Thị Lan - Hiệu trưởng nhà trường, cho biết công tác rà soát đối tượng thụ hưởng được thực hiện rốt ráo để bảo đảm 43 học sinh nhà trẻ và 142 học sinh mẫu giáo được nhận đầy đủ quyền lợi ngay từ đầu năm học. “Đối với những ngôi trường vùng biên giới đặc biệt khó khăn, chính sách này là ‘chìa khóa’ để duy trì sĩ số ổn định và nâng cao tỷ lệ chuyên cần”, bà Lan nhấn mạnh.
Tương tự, tại Trường Mầm non Bát Đại Sơn xã Cán Tỷ, Tuyên Quang có hơn 99% học sinh dân tộc thiểu số, đời sống kinh tế còn thiếu thốn, sự hỗ trợ từ Nhà nước là động lực quan trọng để vận động trẻ tới trường.
Theo bà Lục Thị Hương - Hiệu trưởng, việc ban hành Nghị định 66 là bước ngoặt lớn. “Nhờ chính sách mới, các em được chăm sóc tốt hơn cả về thể chất lẫn tinh thần. Việc trẻ nhà trẻ được hỗ trợ góp phần tăng tỷ lệ huy động trẻ ra lớp”, bà Hương chia sẻ.
Từ góc độ quản lý địa phương, bà Hoàng Thị Liên - Phó Chủ tịch UBND xã Văn Lang, Thái Nguyên khẳng định: “Nghị định 66 thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với học sinh vùng khó khăn. Chúng tôi đã chỉ đạo các nhà trường rà soát kỹ đối tượng thụ hưởng, thực hiện đúng, đủ chế độ. Đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để chính sách đến đúng đối tượng”.
“Nút thắt” trong triển khai
Bên cạnh tác động tích cực, thực tế triển khai Nghị định 66 tại cơ sở cũng bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc cần sớm tháo gỡ. Sau quá trình sáp nhập chính quyền địa phương, việc xác định hộ khẩu thường trú vùng đặc biệt khó khăn tại một số cơ sở giáo dục gặp không ít trở ngại.
Tại Trường THCS Lý Tự Trọng, xã Vị Xuyên, Tuyên Quang học sinh đến từ nhiều địa bàn khác nhau như Đồng Văn, Mèo Vạc, Bắc Mê, Quản Bạ… Hồ sơ giấy tờ của nhiều gia đình còn thiếu hoặc biến động nơi cư trú thường xuyên, khiến nhà trường mất nhiều thời gian, công sức phối hợp với các bên liên quan để bảo đảm không bỏ sót đối tượng thụ hưởng.
Một vấn đề khác được nhiều trường mầm non phản ánh là bất cập trong quản lý, áp dụng chính sách theo độ tuổi. Hiện nay, mức hỗ trợ được tính theo tháng tuổi thay vì cấp học hoặc năm học. Điều này dẫn đến tình trạng trong cùng một lớp, trẻ em được hưởng cùng chế độ nhưng mức hỗ trợ lại khác nhau.
Bà Lục Thị Hương - Hiệu trưởng Trường Mầm non Bát Đại Sơn, bày tỏ: “Trẻ dưới 36 tháng tuổi hưởng theo Nghị định 66, nhưng khi bước sang tháng thứ 37 lại chuyển sang chính sách khác với mức hỗ trợ thấp hơn. Tương tự, trẻ dưới và trên 60 tháng tuổi có mức hỗ trợ chênh lệch rất lớn. Sự chênh lệch này gây khó khăn trong việc xây dựng định mức ăn hằng ngày”.
Ngoài ra, tại nhiều điểm trường vùng cao, lớp học thường phân tán, số lượng học sinh ít. Theo quy định hiện hành về định mức số lượng học sinh để hưởng chế độ bán trú, có tình trạng giáo viên bám bản, trực trưa, tổ chức ăn uống, chăm sóc trẻ xuyên suốt cả ngày nhưng lại không được hưởng phụ cấp do không đủ số lượng học sinh theo quy định.
Có thể thấy rằng, Nghị định 66/2025/NĐ-CP là bước tiến quan trọng trong chính sách giáo dục đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Việc tiếp tục lắng nghe ý kiến từ cơ sở, kịp thời điều chỉnh những bất cập trong quá trình triển khai sẽ giúp chính sách phát huy hiệu quả bền vững hơn, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu công bằng trong tiếp cận giáo dục và phát triển nguồn nhân lực cho những vùng còn nhiều khó khăn của đất nước.
Ông Quàng Văn Lâm - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Sơn La nhận định: Nghị định 66 đưa ra nhiều thay đổi so với các quy định trước đây. Để Nghị định 66 thực sự mang lại hiệu quả bền vững, Nhà nước cần điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với thực tế và đi kèm các giải pháp nâng cao nhận thức của phụ huynh. Hơn hết, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp quản lý giáo dục, chính quyền địa phương và toàn xã hội sẽ là yếu tố quyết định góp phần giúp học sinh có cơ hội học tập công bằng, đầy đủ và phát triển một cách toàn diện.