Là một đại khoa và quan lại triều Lê nhưng Nguyễn Văn Thái bị kéo vào cuộc giằng co quyền lực năm 1527, để rồi trở thành quan lại phụng sự triều Mạc. Có lẽ vì thế, mà sau này khi nhà Lê trung hưng, tên tuổi Thám hoa Nguyễn Văn Thái dần bị quên lãng, trở thành vị Tiến sĩ ít người biết tới.
Tuổi trẻ tài cao
Theo các nguồn sử đăng khoa, Thám hoa Nguyễn Văn Thái sinh năm 1479, quê làng Tiền Liệt, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng (nay thuộc xã Tân An, thành phố Hải Phòng). Năm 24 tuổi, ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ (Thám hoa) trong khoa thi Nhâm Tuất (1502), niên hiệu Cảnh Thống thứ 5, dưới triều vua Lê Hiến Tông.
Đây là học vị cao quý, chỉ đứng sau Trạng nguyên và Bảng nhãn trong hệ thống khoa cử Nho học. Việc đỗ đạt ở tuổi còn trẻ cho thấy Nguyễn Văn Thái là người xuất sắc, góp phần làm rạng danh truyền thống khoa bảng vùng đất Hạ Hồng xưa.
Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống năm thứ 5 (1502) do Thượng thư bộ Lễ kiêm Đông các Đại học sĩ Đàm Văn Lễ vâng sắc soạn, có đoạn: “Bộ Lễ theo lệ cũ, mở khoa thi Hội các Cử nhân trong nước, số dự thi đông đến 5000. Qua bốn trường lấy trúng cách được 61 người, đưa tên dâng lên. Hoàng thượng đích thân hỏi thi ở sân rồng.
Sai Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Lê Đạt Chiêu, Hộ bộ Thượng thư Vũ Hữu, Binh bộ Tả Thị lang Dương Trực Nguyên, Ngự sử đài Bùi Xương Trạch chia giữ các việc. Lễ bộ Thượng thư Đàm Văn Lễ, Nguyễn Bảo, Lễ bộ Tả Thị lang Lê Ngạn Tá; Quốc tử giám Tế tửu Hà Công Trình, Tư nghiệp Hoàng Bồi, Thái thường Tự khanh Nghiêm Lâm dâng quyển lên đọc. Hoàng thượng đích thân xem xét, ban cho bọn Lê Ích Mộc 3 người đỗ Tiến sĩ cập đệ, bọn Nguyễn Cảnh Diễn 24 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Phạm Khiêm Ích 34 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân”.
Theo danh sách trên văn bia, hàng Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, gồm 3 người: Lê Ích Mộc (Trạng nguyên), Lê Sạn (Bảng nhãn), Nguyễn Văn Thái (Thám hoa). Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” cũng ghi: “… bọn Lê Ích Mộc, Lê Sạn, Nguyễn Văn Thái 3 người đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ… Vua ngự điện Kính Thiên, Hồng lô tự truyền loa xướng danh. Mọi năm bảng vàng vẫn treo ở ngoài cửa Đông Hoa, đến nay vua sai Lễ bộ bưng ra, đánh trống nổi nhạc rước ra treo ở cửa nhà Thái học. Bảng vàng treo ở cửa nhà Thái học bắt đầu từ đây”.
Các nguồn sử không ghi chép Thám hoa Nguyễn Văn Thái sau khi đỗ đạt được bổ dụng chức gì. Tuy nhiên, “Đại Việt sử ký toàn thư” có ghi, năm Canh Ngọ Hồng Thuận năm thứ 1 (1510), Thám hoa Nguyễn Văn Thái cùng sứ đoàn được cử sang nhà Minh để thông báo về vấn đề thay đổi ngôi vương của Đại Việt, đồng thời xin phong tước cho vua Lê Tương Dực sau sự kiện đoạt ngôi từ vua Lê Uy Mục.
“Thượng thư Hình bộ Đàm Thận Huy, Đông các hiệu thư Nguyễn Văn Thái, Đô cấp sự trung Binh khoa Lê Thừa Hưu, Thông sự Nguyễn Phong, hành nhân 3 người, tòng nhân 8 người, sang tâu việc; Tả Thị lang Lễ bộ Nguyễn Quýnh, Thị thư Vũ Cán, Đề hình Nguyễn Doãn Văn, Thông sự Nguyễn Hảo, hành nhân 3 người, tùy nhân 9 người, sang cầu phong”.
Đỗ Thám hoa ở tuổi 24, Nguyễn Văn Thái là một trong những vị đại khoa nổi tiếng đương thời. Ảnh minh họa: ITN
Người thảo chiếu nhường ngôi
Năm Quang Thiệu thứ 7 (1522), trước sự lấn át ngày càng mạnh của thế lực Mạc Đăng Dung, vua Lê Chiêu Tông cùng các cựu thần tuy không bằng lòng nhưng bất lực. Đêm 27/7, theo lời khuyên của một số cận thần trung thành, Chiêu Tông rời kinh thành, chạy lên Sơn Tây, phát hịch kêu gọi các nơi đứng lên hỏi tội Mạc Đăng Dung.
Ở kinh thành, Mạc Đăng Dung cùng triều thần bàn việc tạm lập Hoàng đệ Xuân, tức Lê Cung Hoàng lên ngôi. Ngày 1/8, Xuân được tôn làm Hoàng đế, đổi niên hiệu Thống Nguyên năm thứ nhất. Do lo ngại Chiêu Tông ở bên ngoài hiệu triệu lực lượng, triều đình mới không dám đóng ở kinh đô mà đưa vua về Gia Phúc, đồng thời vận chuyển bảo vật trong cung đi nơi khác và tiến hành phong quan, tiến tước cho các văn thần. Trong đó, Nguyễn Văn Thái cùng Vũ Cán được phong chức Chánh doanh đề sát thủy bộ quân vụ.
Đến tháng 4/1527, Lê Cung Hoàng sai đình thần mang kim sách, áo mão và nghi trượng đến Cổ Trai, tấn phong Mạc Đăng Dung làm An Hưng vương, gia thêm cửu tích. Tháng 6 cùng năm, Mạc Đăng Dung từ Cổ Trai trở lại kinh đô, ép vua nhường ngôi. Sử gia Lê Quý Đôn nhận xét rằng lúc này “thần dân phần nhiều xu hướng về Đăng Dung, đều ra đón về kinh đô”.
Dù đã định đoạt cục diện, triều đình vẫn chưa có chiếu nhường ngôi chính thức. Mạc Đăng Dung sai Trương Phu Duyệt thảo chiếu nhưng bị từ chối gay gắt. Sau đó, ông buộc Nguyễn Văn Thái, khi ấy giữ chức Đông các đại học sĩ, phải soạn thảo chiếu thư. Nội dung chiếu viện dẫn mệnh trời, lòng người, ca ngợi công lao và đức độ của Mạc Đăng Dung, đồng thời khẳng định việc nhường ngôi là hợp với thời thế.
Sau chiếu này, Mạc Đăng Dung chính thức lên ngôi Hoàng đế, tức Mạc Thái Tổ, đặt niên hiệu Minh Đức năm thứ nhất, mở ra nhà Mạc. Triều Lê sơ tồn tại tròn một thế kỷ đến đây chấm dứt.
Sau khi nhà Mạc được thiết lập, nhiều cựu thần nhà Lê không thần phục, dấy lên phong trào khôi phục vương triều cũ. Anh em Trịnh Ngung và Trịnh Ngang từng sang cầu viện nhà Minh nhưng không thành, rồi mất tại Trung Quốc.
Năm 1529, tông thất nhà Lê là Lê Ý khởi binh chống Mạc nhưng nhanh chóng thất bại. Cùng năm, Nguyễn Kim rút sang Ai Lao, được vua Sạ Đầu giúp đỡ, cấp đất Sầm Châu để gây dựng lực lượng. Tại đây, ông chiêu mộ binh sĩ, tìm kiếm hậu duệ nhà Lê nhằm mưu đồ phục quốc.
Đến năm 1533, Nguyễn Kim đưa Lê Trang Tông lên ngôi tại Sầm Châu, mở đầu thời kỳ Lê trung hưng. Từ đó, cục diện hình thành hai thế lực đối đầu: Bắc triều (nhà Mạc) và Nam triều (nhà Lê trung hưng). Lê Trang Tông phong thưởng công thần, trong đó Nguyễn Kim giữ vai trò đứng đầu, cùng các tướng như Trịnh Kiểm.
Trước tình hình đó, triều đình Lê trung hưng cũng chủ động liên lạc với nhà Minh nhằm tố cáo Mạc Đăng Dung tiếm quyền. Năm 1534, nhà Minh lấy cớ “phù Lê diệt Mạc”, cử các tướng như Cừu Loan và Mao Bá Ôn chuẩn bị lực lượng tiến đánh.
Trong bối cảnh đó, năm 1538, dưới triều Mạc Đăng Doanh, Nguyễn Văn Thái được cử đi sứ sang nhà Minh lần thứ hai, đến trấn Nam Quan (Quảng Tây) dâng biểu cầu hòa và xin phân xử. Nội dung biểu tâu khẳng định nhà Lê đã tuyệt tự, việc Mạc Đăng Dung lên nắm quyền là thuận theo tình thế, đồng thời giải thích việc chậm trễ tiến cống.
Tuy nhiên, triều đình Minh không chấp thuận ngay, vẫn lệnh cho Cừu Loan và Mao Bá Ôn tập hợp binh mã, gây sức ép quân sự đối với nhà Mạc. Dẫu vậy, nhà Minh cũng không vội tiến quân, phần vì muốn lợi dụng thế đối đầu giữa hai phe Lê - Mạc để “ngư ông đắc lợi”.
Chuyến đi sứ của Nguyễn Văn Thái và sứ đoàn vì thế có ý nghĩa quan trọng, góp phần làm dịu căng thẳng, khiến nhà Minh phải cân nhắc và trì hoãn kế hoạch tiến đánh Đại Việt, kéo dài đến trước năm 1540. Qua đó, ông tiếp tục thể hiện vai trò của một trí thức không chỉ giỏi khoa cử mà còn giàu kinh nghiệm ngoại giao trong giai đoạn lịch sử đầy biến động.
Một số tư liệu cũng chép rằng, trong lần đi sứ Trung Hoa lần thứ 2, Thám hoa Nguyễn Văn Thái bị triều đình phương Bắc giữ lại, rồi ông lấy vợ người Trung Quốc, sinh con đặt tên là Ngạn Xán, theo họ mẹ là họ Trương. Trương Ngạn Xán sau này thi đỗ Tiến sĩ.
Ba lần đi sứ phương Bắc
Năm Canh Tý (1540), niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ 8, trong bối cảnh cục diện Nam - Bắc triều ngày càng căng thẳng, triều nhà Mạc đứng trước sức ép lớn từ nhà Minh. Trước đó, vua Mạc Đăng Doanh qua đời, con là Mạc Phúc Hải lên nối ngôi.
Cùng năm, Mạc Đăng Dung trực tiếp dẫn đầu một đoàn sang trấn Nam Quan, mang theo nhiều đại thần, thực hiện nghi thức đầu hàng mang tính biểu tượng: cởi trần, buộc dây vào cổ, đi chân đất, quỳ lạy trước doanh trại quân Minh, dâng biểu xin hàng và chờ phân xử. Đồng thời, nhà Mạc chấp nhận nhượng một số vùng đất thuộc châu Vĩnh An (trấn Yên Quảng) để nhập vào Khâm Châu, xin được ban ấn tín và công nhận chính thống.
Trong phái bộ ngoại giao tiếp theo sang Yên Kinh, Thám hoa Nguyễn Văn Thái tiếp tục được cử đi sứ, cùng các sứ thần như Mạc Văn Minh và Hứa Tam Tỉnh, mang biểu đầu hàng sang triều đình nhà Minh.
Có thể thấy, trong giai đoạn lịch sử đầy biến động này, Nguyễn Văn Thái nổi bật với vai trò ngoại giao. Từ cuối thời Lê sơ sang đầu thời Mạc, ông 3 lần tham gia các sứ bộ quan trọng, xử lý quan hệ bang giao trong những thời điểm nhạy cảm. Sự khéo léo và mềm dẻo trong ứng xử ngoại giao của ông và triều đình đương thời đã giúp tránh nguy cơ xung đột trực tiếp với nhà Minh.
Đặc biệt, trong bối cảnh triều Minh Thế Tông đang ở thời kỳ cường thịnh, việc lựa chọn con đường nhún nhường, cầu hòa được xem là giải pháp thực tế, nhằm tránh lặp lại bi kịch của nhà Hồ trước đó khi đối đầu quân Minh. Qua đó, vai trò của Nguyễn Văn Thái càng được khẳng định, góp phần duy trì thế cân bằng cho đất nước trong hoàn cảnh đầy thử thách.
Theo ghi chép trong “Lịch triều hiến chương loại chí” - phần Văn tịch chí II của Phan Huy Chú, di sản thơ văn liên quan đến Thám hoa Nguyễn Văn Thái gắn liền với người bạn đồng khoa là Vũ Cán. Trong đó, Vũ Cán là tác giả, còn Nguyễn Văn Thái viết lời tựa cho bộ sách gồm: “Tùng hiên thi tập” (5 quyển), “Văn tập” (12 quyển), “Tứ lục bị lãm”.
Hai vị đại khoa này có nhiều điểm tương đồng, cùng đỗ Tiến sĩ Nhâm Tuất (1502), cùng tham gia sứ bộ sang nhà Minh năm 1510, và cùng ra làm quan dưới triều nhà Mạc từ năm 1527. Sự đồng điệu về học vấn và chí hướng khiến họ trở thành tri âm, thường xướng họa thi ca.
Thơ của Vũ Cán mang âm hưởng lạc quan, ung dung, thể hiện tình yêu cuộc sống thanh bạch và gắn bó với cảnh sắc thôn quê; dù vẫn có những băn khoăn trước thời cuộc khi ra làm quan nhà Mạc. Trong mối giao lưu văn chương ấy, vai trò của Nguyễn Văn Thái không chỉ là một người viết lời tựa mà còn là người đồng hành tinh thần, góp phần làm nổi bật một không gian văn học tiêu biểu giai đoạn Lê - Mạc.
Ngoài ra, Thám hoa Nguyễn Văn Thái còn là tác giả “Bài ký văn bia khoa thi Mậu Dần” (1518). Khi soạn văn bia này (1536), Nguyễn Văn Thái đang giữ chức Lễ bộ Thượng thư, Đông các đại học sĩ dưới triều nhà Mạc. Bài ký được đánh giá là một văn bản tiêu biểu, phản ánh tư tưởng trọng dụng hiền tài và truyền thống khoa cử của nhà nước phong kiến.
“Lòng người đã lìa, mệnh trời không giúp. Khi ấy thiên hạ đã không phải là của nhà ta. Ta không có đức, lạm giữ ngôi trời, việc gánh vác không kham nổi. Mệnh trời lòng người đều theo về người có đức. Xét Thái sư An Hưng vương Mạc Đăng Dung nhà ngươi, bẩm tính thông minh, sáng suốt, có tài lược văn võ. Bên ngoài đánh dẹp bốn phương, các nơi đều phục tùng; bên trong coi sóc trăm quan, mọi việc đều tốt đẹp. Công to đức lớn, trời cho người theo. Nay ta cân nhắc lẽ phải, nên nhường ngôi cho. Hãy gắng sửa đức lớn, giữ mãi mệnh trời để ức triệu dân lành được yên vui”, Chiếu nhường ngôi do Thám hoa Nguyễn Văn Thái soạn.