Vương Hữu Phu còn có tên khác là Vương Đình Thụy, húy Bảy, tự Vi Tử, sinh ngày 5 tháng 12 năm Canh Thìn (1880) tại thôn Long Vân, nay thuộc Nam Đàn (Nghệ An). Ông sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng có tiếng. Thân phụ ông là Vương Danh Thân, đỗ Cử nhân khoa Giáp Tý (1864) và từng giữ chức Giám sát Ngự sử. Anh ruột là Vương Đình Trác đỗ Phó bảng khoa Ất Mùi (1895) và làm quan đến chức Tri phủ.
Suýt đỗ Tam nguyên
Sinh ra trong môi trường gia đình trọng học vấn, ngay từ nhỏ Vương Hữu Phu đã nổi tiếng thông minh và chăm chỉ đèn sách. Ông được theo học với nhiều danh sư nổi tiếng trong vùng, tiêu biểu như cụ Đầu xứ Đinh Văn Uyển ở Kim Khê và cụ Cử nhân Nguyễn Thế Cát ở làng Đại Đồng. Nhờ sự dìu dắt của các thầy, ông sớm bộc lộ tư chất học vấn nổi bật.
Năm 23 tuổi, Vương Hữu Phu dự kỳ thi Hương khoa Quý Mão (1903) tại trường thi Nghệ An và đỗ Á nguyên (Cử nhân thứ hai). Đến khoa thi Canh Tuất (1910) dưới triều Duy Tân, ông tiếp tục tham dự thi Hội và đỗ đầu cả thi Hội và thi Đình, trở thành Song nguyên Tiến sĩ (Hội nguyên và Đình nguyên).
Sau khi đỗ đạt, ông được triều đình bổ nhiệm làm quan với các chức vụ như Thừa chỉ hậu bổ và Trước tác xung Cơ mật viện. Ngoài sự nghiệp khoa bảng, Vương Hữu Phu còn để lại một số sáng tác văn chương, đặc biệt là những câu đối hiện vẫn được lưu giữ tại nhà thờ họ Vương ở Nam Đàn cũng như trong tư liệu của gia đình Phó bảng Đào Phan Duân ở Bình Định (nay thuộc tỉnh Gia Lai). Những tư liệu này được ghi lại trong công trình “Câu đối xứ Nghệ”.
Không chỉ nổi tiếng học giỏi, Vương Hữu Phu còn được biết đến là người trọng nghĩa thầy trò và gắn bó với bạn học. Khi thầy dạy mình là Nguyễn Thế Cát được thăng chức, ông cùng các đồng môn làm câu đối mừng, hiện vẫn còn treo tại nhà thờ thầy. Trong đó có đôi câu: “Hội trung tư mã nhàn kỳ thạc/ Đường thượng tam chiên tiến đại phu” (Trong triều hội, thầy là bậc kỳ lão ung dung/ Trên đường thăng chức, mừng thầy bước lên bậc đại phu).
Một đôi câu khác viết: “Phượng chiếu thập hàng nhàn vân nhất phiến/ Chiên đường tam tiến thái hộ tăng quang” (Chiếu vua ban xuống như mây nhàn một dải/ Đường thăng chức ba lần, cửa lớn càng thêm rạng rỡ).
Nhờ tư chất thông minh và học vấn uyên thâm, Vương Hữu Phu suýt trở thành Tam nguyên - người đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội và Đình. Tuy nhiên, tại kỳ thi Hương ông chỉ đỗ Á nguyên, nên không đạt danh hiệu này. Trong lịch sử triều Nguyễn, những người đỗ Tam nguyên như Nguyễn Khuyến hay Phạm Văn Nghị đều rất hiếm hoi và được xem là những bậc khoa bảng xuất sắc.
Đến nay, bài văn thi đỗ Hội nguyên của Vương Hữu Phu chưa tìm thấy. Tuy nhiên, bài văn sách thi Đình - tác phẩm giúp ông đỗ đầu khoa thi đã được gia đình và dòng họ Vương sưu tầm lại. Đây là một bài văn sách đặc biệt xuất sắc, thể hiện tư duy rộng mở và tầm nhìn cải cách, nên được chọn đứng đầu khoa thi.
Bản văn sách này được trích từ tập “Hội - Đình văn tuyển” của khoa thi Canh Tuất triều Duy Tân. Phần mở đầu của tập sách ghi rõ họ tên, quê quán của các tân khoa đỗ Tiến sĩ và Phó bảng trong khoa thi năm ấy, trong đó tên tuổi Vương Hữu Phu được xếp ở vị trí cao nhất với danh hiệu Đình nguyên.
Khát vọng canh tân
Trong lịch sử khoa bảng Việt Nam, nhiều bài văn sách thi Đình chỉ dừng lại ở việc vận dụng kinh điển nho học để trả lời những vấn đề trị quốc. Tuy nhiên, bài đối sách của Đình nguyên Vương Hữu Phu lại là một trường hợp đặc biệt. Từ những câu hỏi đặt ra trong đề luận của nhà vua, vị sĩ tử trẻ tuổi không chỉ sử dụng tri thức truyền thống mà còn tiếp cận tư tưởng cải cách, nhìn thẳng vào thực trạng xã hội, đề xuất những giải pháp mang hơi hướng hiện đại.
Bài văn sách ra đời trong bối cảnh đất nước đang đứng trước nhiều biến động, khi xã hội Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng, chịu sự chi phối ngày càng mạnh mẽ của thực dân Pháp. Chính trong hoàn cảnh ấy, bài đối sách bộc lộ một tầm nhìn canh tân đáng chú ý.
Đề luận của nhà vua không phải là những vấn đề thuần túy kinh điển, mà xuất phát từ thực trạng xã hội đương thời. Đề bài viết: “Hiện thời, trong dân gian chưa khỏi cảnh xin ăn, ở nơi đầm lớn rừng sâu còn nghe tiếng trộm cướp, phải chăng đường lối giúp dân làm giàu và giáo hóa dân còn chưa thoả đáng?… Nay muốn bọn gian quỹ không trỗi dậy, công thương được hưng khởi lên, ở vùng ven biển và ven núi, ruộng nương được khai khẩn hết… Suy nghĩ cho sâu làm sao sửa trị được như thế?”.
Để nhấn mạnh tầm quan trọng của kinh tế đối với đạo đức xã hội, đề bài dẫn lời Quản Tử: “Cơm áo đủ thì biết vinh nhục, kho lẫm đầy thì biết lễ tiết”. Tư tưởng ấy cho thấy triều đình đã ý thức, muốn giữ gìn trật tự xã hội thì phải cải thiện đời sống vật chất của người dân, đúng như lời người xưa “Quốc dĩ dân vi bản/ Dân dĩ thực vi tiên”.
Trả lời câu hỏi ấy, Vương Hữu Phu không né tránh thực trạng xã hội. Ngay mở đầu bài đối sách, ông khẳng định: “Nay chế sách lấy việc trong dân gian còn cảnh xin ăn, ở nơi đầm lớn rừng sâu còn nghe tiếng trộm cướp ra để hỏi, thần xin được giãi bày”.
Theo Vương Hữu Phu, nguyên nhân không phải ở trời đất, mà ở cách tổ chức kinh tế và sản xuất. Ông viết: “Theo thần thì mối lợi nông nghiệp nước ta chẳng những chưa được mở rộng mà phân bón còn chưa được tân chế, nghề trồng trọt chưa có phương pháp tốt… chợt gặp năm hạn hán hay úng ngập, gây mất mùa, đói kém, thì niềm vui và mối lợi chưa khắp đến xóm nghèo”.
Theo giới nghiên cứu lịch sử, có thể thấy một cách nhìn rất thực tế. Đối với Vương Hữu Phu, nghèo đói không phải là định mệnh, mà là hệ quả của sự lạc hậu trong phương thức sản xuất. Khi nông nghiệp chưa được cải tiến, kỹ thuật canh tác còn thô sơ, thì chỉ cần thiên tai xảy ra, xã hội lập tức rơi vào khủng hoảng.
Sau khi phân tích nguyên nhân, ông đưa ra kết luận: “Thần trộm nghĩ cái cần kíp lúc này không có gì lớn hơn hai việc là hưng dân lợi và khai dân trí”. Ông dẫn lời Khổng Tử: “Sau khi làm cho dân giàu có thì phải tiến hành giáo dục họ”.
Đồng thời, ông nhắc tới quan điểm của triết học phương Tây: “Muốn làm cho dân có tri thức thì trước hết phải khơi thông sự ngu dốt của dân”. Ông khẳng định: “Làm cho dân được lợi thì không gì quan trọng hơn nghề nông”. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là Vương Hữu Phu đề xuất những biện pháp rất cụ thể như khai khẩn đất hoang, tổ chức sản xuất, phổ biến kỹ thuật mới.
Ông viết: “Thần mong ở các địa phương mỗi nơi xây dựng một nông trường, chọn một khoảnh ruộng hoang, tuyển người siêng năng, giỏi giang quản lý công việc… cung cấp nông cụ, giúp đỡ vốn liếng, đem sách kỹ thuật nông nghiệp dạy cho họ”. Ý tưởng lập nông trường nhà nước, hỗ trợ vốn và kỹ thuật cho người khai hoang đã cho thấy một tư duy quản lý kinh tế hiện đại.
Vương Hữu Phu còn đề nghị học hỏi kỹ thuật phương Tây: “Tham khảo thêm cách cày tuyết của phương Tây, khuyến khích việc dùng cày máy…”. Điều này chứng tỏ ông đã ý thức được vai trò của khoa học kỹ thuật trong việc nâng cao năng suất lao động.
Bên cạnh nông nghiệp, bài đối sách còn đề cập đến vai trò của công nghiệp và thương nghiệp. Ông nhận định: “Công tất phải học máy móc, việc chế tạo do đó mới có thể phát triển, thương thì hàng hoá xuất nhập khẩu phải được thông suốt”. Theo ông, nghề thủ công chưa phát triển, việc buôn bán với nước ngoài bị hạn chế khiến cho lợi ích kinh tế không thể phát triển: “Nghề thủ công chưa được khéo, việc buôn bán thì hàng hóa xuất ra nước ngoài bị cấm, cả công và thương đều chưa có thể mưu cầu lợi ích một cách nhanh chóng”.
Một trong những điểm nổi bật nhất trong bài đối sách là tư tưởng cải cách giáo dục. Ông cho rằng nền học thuật trong nước chưa phát triển vì quá chú trọng hình thức: “Người dạy học trò thì căn cứ vào đạo đức, chứ chưa dựa vào chuyên môn mà chọn”. Vì vậy, ông đề xuất xây dựng một hệ thống giáo dục có chương trình và khảo hạch rõ ràng, tham khảo mô hình của châu Âu: “Bộ Học nên nắm việc khảo hạch cuối cùng để chọn bằng tốt nghiệp như kiểu học có chương trình của nước Anh gồm 16 môn thi, hay của nước Đức gồm 18 khóa trình”.
Lời trăn trở về vận mệnh đất nước
Giới nghiên cứu nhận định, điều đáng chú ý là tất cả những nhận định và đề xuất được Vương Hữu Phu trình bày trọn vẹn trong khuôn khổ một bài thi Đình. Trong truyền thống khoa cử, các bài văn sách thường dựa trên kinh điển, ít khi đưa ra những đề xuất mang tính cải cách thực tế. Thế nhưng bài đối sách của Đình nguyên Vương Hữu Phu lại vượt ra khỏi khuôn khổ. Ông không chỉ viện dẫn kinh điển mà còn bàn đến khoa học kỹ thuật, thương mại quốc tế, cải cách giáo dục theo mô hình phương Tây.
Có thể thấy ở đây ảnh hưởng của phong trào canh tân từng được khởi xướng trước đó bởi những nhà cải cách như Nguyễn Trường Tộ. Những tư tưởng đổi mới ấy đã dần thấm vào tầng lớp trí thức cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Theo nhận xét của cố GS Vương Lộc (Viện Ngôn ngữ học), bài văn sách của Vương Hữu Phu là một áng văn tiêu biểu cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, lập luận chặt chẽ, trình bày mạch lạc.
Điều đáng tiếc là những đề xuất ấy đã không được thực thi. Khi bài văn ra đời, quyền lực thực tế của triều đình đã bị hạn chế bởi sự chi phối của thực dân Pháp. Vì vậy, những ý tưởng cải cách dù sắc sảo cũng khó có cơ hội trở thành chính sách. Tuy vậy, giá trị của bài đối sách không vì thế mà giảm sút, ngược lại cho thấy khát vọng đổi mới của giới nhà nho giữa lúc đầy biến động.
Ở cuối bài đối sách, Vương Hữu Phu vẫn giữ giọng điệu khiêm tốn của một sĩ tử: “Thần là kẻ bắt đầu học, mới tiến bộ, không biết kiêng dè, nói năng bộc trực trước đấng quân vương, lòng khôn xiết run sợ!”. Nhưng chính sự “bộc trực” ấy lại ẩn chứa tầm nhìn rộng mở, đưa bài văn sách thành lời trăn trở về con đường phát triển đất nước.
Con trai của Đình nguyên Tiến sĩ Vương Hữu Phu là Vương Đình Quang nổi tiếng trong vai trò là một nhà báo và trí thức yêu nước. Thời trẻ, ông từng làm thư ký cho nhà yêu nước Phan Bội Châu khi cụ bị quản thúc tại Huế, giúp đọc báo, chép lại thơ văn và các bài viết của cụ. Sau đó ông hoạt động báo chí, năm 1935 sáng lập và làm chủ bút tờ Trung Kỳ tại Vinh. Khi tờ báo đình bản, ông vào Huế làm Thư ký tòa soạn báo Tiếng Dân do cụ Huỳnh Thúc Kháng sáng lập.