Chuyện học xưa & nay: Vị Hương cống trở thành trọng thần của 3 triều vua Nguyễn

GD&TĐ - Dù chỉ là một Hương cống, không phải đại khoa như nhiều danh sĩ khác, nhưng Trương Đăng Quế đã thể hiện xuất sắc trên nhiều lĩnh vực, cả chính trị lẫn học thuật.

Trương Đăng Quế được hậu thế tôn vinh tại nhà thờ họ Trương Việt Nam (Ninh Bình). Ảnh: ITN.
Trương Đăng Quế được hậu thế tôn vinh tại nhà thờ họ Trương Việt Nam (Ninh Bình). Ảnh: ITN.

Trương Đăng Quế sinh năm 1793, tự là Diên Phương, hiệu là Đoan Trai, người làng Mỹ Khê, huyện Bình Sơn (nay là xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi). Ông làm quan suốt 43 năm, trải 3 triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (hai lần nhận di chiếu tôn phò vua mới), xứng đáng “văn trị, võ công”, là “cố mệnh lương thần” dưới triều nhà Nguyễn.

Mở đầu khoa bảng xứ Quảng

Theo các tài liệu lịch sử, Trương Đăng Quế sinh trưởng trong một gia đình nhiều đời là vọng tộc xứ Quảng. Tổ tiên ông vốn người huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh), theo Nguyễn Hoàng vào cư trú tại Quảng Ngãi năm 1624. Cha của ông là Trương Đăng Phác từng làm quan tới chức Tri phủ thời Tây Sơn.

Năm lên 9 tuổi, Trương Đăng Quế mồ côi cha, được các anh chị em thương yêu đùm bọc, mời thầy dạy dỗ chữ nghĩa. Năm 1819, Trương Đăng Quế dự kỳ thi Hương tại trường thi Trực Lệ ở Thừa Thiên và đỗ Hương cống - là học vị cao nhất lúc bấy giờ ở Đàng Trong, trở thành người mở đầu con đường khoa cử vùng đất Quảng Ngãi.

Tuy chỉ đậu Cử nhân, nhưng lúc đó ông đã nổi tiếng khắp vùng bởi thông suốt kinh sách, có tài thơ văn. Sau đó, ông được triệu về kinh đô làm Hành tẩu ở bộ Lễ. Năm 1820, đời vua Minh Mạng, sau một năm tập sự ở bộ Lễ, vì có tiếng học hành - là một trong số 3 người có “học hạnh thuần cẩn” được lựa chọn, tiến cử vào cung để dạy học cho các hoàng tử với chức quan là Biên tu sung Trực học.

Năm 1823, ông được sung chức Bạn độc, rồi lại thăng Hàn lâm viện thị độc sung Tán Thiện đường phụ trách việc dạy dỗ các hoàng tử. Theo sử triều Nguyễn, vua Thiệu Trị, các hoàng tử Phụng Xuân, Kinh Thuận, Vĩnh Tường, Phú Bình khi nhỏ đều được sự bảo ban, rèn cặp của Trương Đăng Quế.

Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), do có khả năng làm việc, ông được bổ chức Tả thị lang bộ Công làm ở Nội các, tức văn phòng của vua, được gần vua, tham gia cùng vua bàn bạc đề ra những quyết sách vĩ mô. Cũng trong thời gian này Trương Đăng Quế được đổi bổ làm Tả thị lang bộ Lễ, vẫn làm việc ở Nội các.

Một năm sau đó, vào tháng 12/1831, Trương Đăng Quế được thăng chức và điều chuyển từ Tả thị lang bộ Lễ sang làm Tả tham tri bộ Hộ, rồi sau đó lại được điều động về coi việc ở Võ Khố là kho quân sự nhà nước, quản lý phần lớn tài sản nhà nước. Năm 1833, ông giữ ấn triện Đô sát viện rồi Toản tu trong ban soạn quốc sử. Năm 1835, ông được sung Cơ mật viện đại thần gia hàm Thái tử thiếu bảo, chủ khảo kỳ thi Hội.

Năm 1836, Trương Đăng Quế được cử làm Kinh lược đại sứ đi kinh lược Nam Kỳ. Công việc đạt kết quả tốt, ông được thăng Hiệp biện Đại học sĩ lãnh Thượng thư bộ Binh. Tháng 12/1836, ông được cử làm Kinh lược quân binh Thanh Hoá; năm 1837, được cử quản lý Khâm thiên giám. Năm 1838, chủ khoa thi Hội rồi Độc quyển thi Đình, Hiệp lý điều khiển thủy quân. Năm 1839 tấn phong Tuy Thạnh nam.

vi-huong-cong-tro-thanh-trong-than-trai-3-trieu-vua-nguyen-4.jpg
Bản in Mộc bản sách “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” phần chính biên - tác phẩm ghi dấu ấn sâu sắc của Trương Đăng Quế. Ảnh: ITN.

Bề tôi lớn trải 3 triều

Thiệu Trị năm đầu (1841), nhà vua chuẩn cho Trương Đăng Quế giữ chức Văn Minh điện Đại học sĩ, gia hàm Thái bảo, quản lý bộ Binh, kiêm Cơ mật viện, kiêm sung chức Tổng tài ở Quốc sử quán, chủ biên các bộ sách lớn của Triều Nguyễn: Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Đại Nam hội điển toát yếu…

Trong Mộc bản sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” - nhị tập chép, năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), vua ngự giá đi tuần ra Bắc, Trương Đăng Quế được sung chức Ngự tiền đại thần. Đến khi lễ bang giao xong, ngày trở về vua xuống dụ rằng: “Trương Đăng Quế là người phụ tá rất tốt của đất nước, nên tấn phong cho tước Tử (tước 5 bậc: công, hầu, bá, tử, nam, tước Tử là bậc thứ 4 trong 5 bậc) và ban thưởng cho một đồng kim tiền “Phan long, phụ phượng” hạng nhất có dây tua rủ xuống, 30 lạng bạc; lại thưởng thêm cho một chiếc nhẫn bằng ngọc kim cương rất lớn của vua dùng”.

Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), Trương Đăng Quế có bệnh xin phép được nghỉ. Vua thường sai Trung sứ đến thăm hỏi và ban cho thuốc bổ của vua dùng. Đến khi khỏi bệnh, Trương Đăng Quế vào tạ ơn, vua an ủi, hỏi chuyện hồi lâu rồi ban dụ rằng: Khanh tuổi đã cao, trẫm không muốn làm phiền khanh những việc nhỏ. Nếu có việc gì trọng đại, thì hãy cùng trẫm bàn định, còn việc gì tầm thường ở Bộ thì đã có các quan khác thay cho, để thường ngày khanh khỏi phải đến chầu. Trương Đăng Quế lạy tạ không dám nhận.

Tháng 8 năm ấy, con của ông là Trương Đăng Trụ được ấm thụ làm Thừa chỉ viện Hàn Lâm, được chi lương cho ở nhà học tập. Trương Đăng Quế dâng sớ xin từ chối, đại lược tâu: “Thần gặp thời mới có được danh vị, lạm dụng ngôi cao, đức bạc quan to, đã vượt quá chức phận rồi. Con thần hãy còn ít tuổi, chưa học mà đã có chức quan, không làm việc mà được hưởng bổng lộc nhiều, thần sợ là sung mãn quá”.

vi-huong-cong-tro-thanh-trong-than-trai-3-trieu-vua-nguyen-3-3206.jpg
Văn bia trước nhà thờ Thái sư Trương Đăng Quế. Ảnh: ITN.

Vua không cho, bảo rằng: “Công thần nối đời giữ chức quan là thịnh điển của quốc gia, khanh cứ yên tâm”. Trương Đăng Quế sau lại tâu xin bổ dụng con cháu Mạc Thiên Tứ để đền công mở mang đất đai khi trước.

Đến năm Tự Đức thứ 2 (1849), bắt đầu đặt Viện Tập Hiền, Trương Đăng Quế được sung làm Kinh diên giảng quan. Tháng giêng, năm Tự Đức thứ 3 (1850), Trương Đăng Quế vâng mệnh đi duyệt binh. Kỳ xét công năm ấy, khi danh sách dâng lên thì Trương Đăng Quế được khen thưởng, được ban cho một cái khánh bằng vàng có khắc chữ “Tam triều thạc phụ” (Người bề tôi lớn của cả ba triều).

Năm 1853, ông làm Chánh sứ phụ trách việc đê điều ở Bắc Kỳ; sau chuyến kinh lý, các đề xuất sửa chữa đê điều của ông được chấp thuận. Sau đó, ông xin nghỉ vì sức yếu, nhưng không lâu sau lại được triệu về tiếp tục giữ Bộ Binh; năm 1855 xin hưu vẫn không được chấp thuận.

Năm 1858, khi quân Pháp tấn công Đà Nẵng, ông cùng Phan Thanh Giản tâu xin hòa, đồng thời chủ trương phải giữ vững phòng thủ trước khi bàn hòa. Ông được giao đi Quảng Nam đôn đốc xây dựng đồn lũy. Năm 1859, sau khi Gia Định thất thủ, ông xin nghỉ vì không còn khả năng đảm đương nhiệm vụ; được phép về dưỡng bệnh và định kỳ vào chầu.

Năm 1862, ông tiếp tục xin hưu, xin thôi giữ Bộ Binh và xin giáng chức, bỏ tước nhưng không được chấp thuận. Sau đó, ông xin nộp một nửa lương để bổ sung quân phí và được nhà vua chấp nhận.

vi-huong-cong-tro-thanh-trong-than-trai-3-trieu-vua-nguyen-2.jpg
Nhà thờ Thái sư Trương Đăng Quế tại Quảng Ngãi. Ảnh: ITN.

Vua tin phó thác trọng trách

Không chỉ là một danh thần dưới triều Nguyễn, Trương Đăng Quế còn là nhà thơ, nhà văn, nhà sử học. Tên tuổi của ông gắn với nhiều tác phẩm Hán nôm có giá trị như: Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Giáp Thìn khoa điện thí văn, Hoàng Việt hội điển toát yếu, Diệu Liên tập, Nhật Bản kiến văn lục, Quảng Khê văn tập, Trương Quảng Khê thi văn, Trương Quảng Khê tiên sinh tập.

Một số thơ của ông được trích in trong các sách như: Thanh Hoá kỉ thăng, Thi tấu hợp biên, Từ uyển xuân hoa. Văn Trương Đăng Quế cũng rất được người đương thời hâm mộ, được trích in trong các sách như: Bách quan tạ biểu, Biểu tấu tập, Binh chế biểu sớ, Nam giao nhạc chương, Nguyễn triều tấu biểu, Quốc triều danh biểu, Quốc triều hàn uyển...

Trên lĩnh vực sử học, với vai trò Tổng tài Quốc sử quán, Trương Đăng Quế đã góp phần không nhỏ vào việc biên soạn một số công trình của Quốc sử quán triều Nguyễn như bộ: Đại Nam liệt truyện tiền biên, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam thực lục chính biên (Đệ nhất kỉ, Đệ nhị kỉ, Đệ tam kỉ) và một phần của Đại Nam thực lục chính biên, Đệ tứ kỉ.

Năm 1863, sau nhiều lần xin từ quan, ông được vua Tự Đức cho về trí sĩ, ban các thứ dưỡng lão và cùng đình thần làm lễ tiễn đưa. Vua Tự Đức tỏ lòng mến mộ, luyến tiếc và ca ngợi tài đức của Trương Đăng Quế, rằng: “Xưa nay được một tôi già có tài, có đức, ít có. Trẫm cũng biết người khanh bệnh yếu, e khó kiếm người thay. Vì có tài, bất luận già trẻ, ưa nhau xin chớ phụ nhau. Nay đã đến ngày tiễn biệt nhau, gắng giữ cho trong cái chí cao thượng. Tiếc mãi người lão thành. Khanh về cũng nhớ ta, không phải là an cảnh già mà quên được đâu, huống chi cơ trời không nhất định, ta cũng hay đau...”.

Vua Tự Đức còn bảo với Trương Đăng Quế, sau khi về hưu có biết được gì hay, nghĩ điều gì quan hệ về việc lợi hại trong nước, cho phát tạm tâu lên. Khi có việc hệ trọng, nhà vua cũng thường cử người đi hỏi ý kiến ông. Có lần, được nhà vua hỏi về việc nước, ông gửi sớ tâu 5 điều, trong đó đáng chú ý là: “Đường lối trị nước, cần ở dùng người, nhất là quan lại cấp huyện; Muốn quan thanh liêm, không gì bằng bớt viên chức đi, mà tăng lương bổng; Của dùng thiếu, tùy theo trường hợp, có thể cho phạm nhân được nộp thóc hay vàng chuộc tội…”. Sớ tâu này được vua giao cho đình thần bàn bạc để thi hành

Sống những năm tháng cuối đời nơi làng quê chôn nhau cắt rốn, Trương Đăng Quế vẫn đau đáu nỗi lòng trước tình cảnh đất nước rơi vào họa xâm lăng, nhiều lần dâng thư ra Huế bày tỏ nỗi lo toan vận nước.

Ngày 15/2 năm Ất Sửu (1865) Trương Đăng Quế từ trần, thọ 73 tuổi. Nghe tin, nhà vua cho nghỉ triều 3 ngày, truy tặng ông hàm Thái sư, ban tên thụy là Văn Lượng, cho khắc trên bia mộ dòng chữ: “Lưỡng triều cố mệnh lương thần Trương Văn Lượng chi mộ”.

Vua Tự Đức còn tặng bài thơ đại ý: “Một người tôi hiền đã thác rồi, làm sao mà người trong nước khỏi kinh ngạc. Thần hồn của người đã về trên non cao, không mấy đời tái sinh lại nữa. Đối với đời thì người có bốn chữ: Phúc, Lộc, Danh, Thọ ghi trên minh tinh không thể hết. Đối với triều đình thì Lưỡng triều cố mạng ghi để trong Quốc sử...”.

Vua sai đại thần mang rượu tới nhà ban tế, tuyển thợ xây mộ. Năm 1876 (Tự Đức thứ 28) nhà vua cho phối thờ ông trong Thế miếu - nơi thờ phụng các vua nhà Nguyễn và phối thờ các đại công thần.

Từ một Hương cống hạng trung khoa, Trương Đăng Quế trở thành trọng thần trải ba triều vua, gắn với nhiều nhiệm vụ lớn của triều đình. Từ kinh lược Nam Kỳ, Thanh Hóa đến tham gia điều hành triều chính, ông để lại dấu ấn trong việc quản lý, tổ chức hành chính, ổn định xã hội cho đến học thuật, nghiên cứu… phản ánh rõ vai trò của một đại thần được tin cậy trong giai đoạn đất nước nhiều biến động.

“Trương Đăng Quế lúc làm quan, giữ mình khiêm tốn, chính trực, kiến văn nhiều, xử đoán khéo, trải làm quan hơn 40 năm, ngồi ở chức Tể tướng; thế mà ăn mặc giản tiện sơ sài, không khác gì lúc còn chưa làm quan, và lại có tính siêng năng… đã biết thì không điều gì không nói, đã nói thì không có điều gì không nói hết lời. Triều đình lấy làm trọng, các tiên thánh vốn vẫn chọn dùng... Các danh thần lúc bấy giờ, như Tráng liệt bá Nguyễn Tri Phương, mà vua cũng bảo là phong độ không bằng Quế. Sau khi Quế chết, hoàng thượng thương nhớ, triều đình lấy làm tiếc. Các hoàng thân, công chúa và sĩ phu trong ngoài đều làm thơ văn câu đối đem đến phúng. Ấy là Quế làm cho người ta cảm mộ đến như thế”, theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ

Học sinh Trường THCS Cầu Giấy (Hà Nội) thực hành trong phòng học STEM của nhà trường. Ảnh: NTCC

'Nén' nguồn lực cho giáo dục toàn diện

GD&TĐ - Các chuyên gia, đại biểu Quốc hội gợi mở, cần quan tâm tăng cường nguồn lực bảo đảm các nhà trường đủ lớp, phòng chức năng, trang thiết bị cũng như đội ngũ… để học sinh có cơ hội trải nghiệm.