Đó là lí tưởng cách mạng của thế hệ trẻ lúc bấy giờ và tinh thần lạc quan trong cuộc sống.
Mạnh mẽ trong mọi hoàn cảnh
Cuốn nhật ký khá dày nhưng thật đặc biệt khi không được đánh số trang và được ghi chú bởi hai phần: Quyển 1, 1968 và quyển 2, 1970. Trên bìa là hình ảnh minh họa của một trang nhật ký, bên cạnh hình ảnh của tác giả là những dòng chữ đầy xúc động: “Những trang viết có số phận kỳ lạ của một nữ liệt sĩ 27 tuổi”.
Có thể nói, những trang viết ấy hết sức chân thực với dòng cảm xúc tự nhiên, bình dị. Chúng như những thước phim quay chậm tái hiện những cung đường huyền thoại, vẻ đẹp của những cánh rừng qua đôi mắt đầy mơ mộng của người bác sĩ trẻ.
“Rừng chiều sau một cơn mưa, những lá cây xanh trong trước ánh nắng, mỏng mảnh xanh gầy như bàn tay một cô gái cấm cung…” (Ngày 12/4/68), hay là: “Đường sang trường Đảng, một chiều nắng đẹp, nắng chiều đổ dài trên những ngọn cây cao…” (Ngày 9/12/68).
Thơ mộng đó, nhưng hoàn toàn không yếu đuối. Giữa nơi chiến trường đạn bom khốc liệt, cô bác sĩ Hà thành ấy, ngày ngày tiếp xúc và cứu chữa cho biết bao thương binh, từ bị thương nhẹ đến nặng, thậm chí là những đồng đội đã hi sinh.
Buồn có, nhớ nhung gia đình, ba mẹ thậm chí nhiều lúc Thùy Trâm như rơi vào trạng thái tuyệt vọng khi chứng kiến người bạn, người em, người đồng đội mà mình yêu quý ra đi ngay trước mắt mà không thể làm gì hơn. Những lúc đó, Thùy Trâm đã cảm thấy “lòng mình đau như cắt…, mình như tên lính bại trận giơ hai tay lên để cho kẻ thù tước bỏ vũ khí” (Ngày 24/10/68).
Nhưng dù vậy, Thùy Trâm không yếu đuối, dù có chuyện gì đi nữa, bên trong con người nhỏ bé ấy là một trái tim giàu yêu thương và vô cùng mạnh mẽ; một tinh thần bất khuất và ý chí kiên cường trong chiến đấu.
“Giờ đây, cũng là một ngày tháng Bảy – giữa núi rừng mình cùng thương binh chạy càn, chạy càn ở tư thế chiến thắng. Chỉ có những người Việt Nam chúng ta mới thấy được khí thế chiến thắng dù địch đang đuổi theo sau lưng, dù vai nặng trĩu ba lô, dù chân đạp rừng băng suối đi lánh địch…” (Ngày 3/7/68). Không một chút nản lòng, không một giây phút bi quan, người chiến sĩ ấy đã mạnh mẽ trong mọi hoàn cảnh và chị vẫn tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng.
Kỷ niệm ngày sinh nhật nơi chiến trường, Trâm viết: “Kỷ niệm ngày sinh hôm nay trong tiếng súng địch càn nổ rền vang bốn phía. Cũng quen rồi những cảnh vai mang ba lô đưa những người thương binh chạy đi trốn.
Có gì đâu, hai năm rồi quen với lửa đạn chiến tranh…” (Ngày 26/11/68). Những lúc đó, chị lại nhớ những ngày còn được ở trong vòng tay ba mẹ, nhưng chỉ để chị có thêm động lực chiến đấu, và mong ba mẹ cứ yên lòng. Cảm phục thật sự, tinh thần cách mạng của nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm, cũng như biết bao người chiến sĩ, đã dũng cảm chiến đấu để giành lại nền hòa bình, độc lập cho dân tộc.
Họ đã bỏ lại giấc mơ nơi giảng đường đại học, bỏ lại một cuộc sống ấm êm có đầy đủ ba mẹ, anh em để lên đường vì miền Nam ruột thịt. Vậy mới thấy, vì sao trong vô vàn gian khó, khắc nghiệt của chiến tranh, dân tộc Việt Nam lại làm nên được những điều vĩ đại.
Lắng lại những yêu thương
Bên cạnh đó, cuốn nhật ký còn kể những câu chuyện về tình người, tình đồng đội hết sức cảm động. Có những cuộc gặp gỡ nơi chiến trận, cũng có những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi nơi trạm cứu thương nhưng lắng lại là những tình cảm vô cùng thiêng liêng và cao quý.
Đó là M., là Th., là em Thường, là bé Nga, là chị Hằng, là Liên… Dù là có tên tuổi cụ thể hay chỉ là những cái tên được viết tắt như thế thì với Thùy Trâm họ đều rất đặc biệt và chị dành thật nhiều tình yêu thương, sự trân trọng, sẻ chia.
Ngoài ra, có những trang nhật ký Thùy Trâm viết bằng thơ, với giọng điệu nhẹ nhàng mà tha thiết. Bài thơ dài ghi ngày 7/1/70 là cả nỗi lòng của cô gái nhỏ khi nhớ về quê hương, nhớ về ba mẹ: “Tôi đứng đây giữa núi rừng lộng gió/ Mưa đan dày trùm cả rừng cây/… Lòng bỗng thấy nhớ thương da diết/ Ơi những người thân yêu ở nơi xa có biết/ Tôi nghĩ gì trong giá lạnh chiều nay…”. Nỗi nhớ vẫn thường trực trong trái tim người chiến sĩ, và đó cũng là một nguồn động lực để cô vững vàng hơn trong chiến đấu.
Phải nói, Đặng Thùy Trâm là một bác sĩ có tâm hồn giàu chất văn, một tâm hồn nhẹ nhàng, đằm thắm mà mạnh mẽ, kiên trung. Bởi vậy cuốn sách viết về lịch sử đấu tranh của dân tộc đậm chất văn.
Tiêu biểu như: “Cuộc sống quả là một bức tranh muôn màu muôn sắc, mình như một họa sĩ mới ra trường đã bước ngay vào một thực tế phức tạp. Trước mắt mình là những ngọn núi trùng điệp, có những ngọn núi xanh lam với những dải mây trắng vương nhẹ bên sườn núi…” (Ngày 27/2/70).
Hay: “Chiều đã xuống, ánh nắng đã mờ tắt sau dãy núi xa… Không một tiếng chim kêu, không một tiếng người nói, chỉ có tiếng suối róc rách chảy và chiếc transitor đang phát một bản nhạc. Mình không nghe nhan đề nhưng chỉ biết khúc nhạc êm dịu, mượt mà như cánh đồng lúa xanh êm ả trong sương chiều…” (Ngày 18/6/70).
Trang nhật ký cuối cùng dừng lại ở ngày 20/6/1970, thì hai ngày sau đó, bác sĩ Đặng Thùy Trâm hi sinh trong một chuyến công tác từ huyện Ba Tơ về đồng bằng. Dẫu những con số về ngày tháng đã dừng lại, dẫu trái tim đầy nhiệt huyết của chị đã ngừng đập nhưng tôi tin chị mãi mãi bất tử.
Sau khi chị hi sinh, cuốn nhật ký đã được một người lính Mỹ cất giữ và đưa về đất nước của họ. Hòa bình lập lại, cho đến ba mươi năm sau, cuốn nhật ký đã được người cựu binh tìm về và gửi lại cho gia đình liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Đó cũng có thể coi là một điều kì diệu.
May mắn được sinh ra trong hòa bình, thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay được tiếp xúc với những tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại, với mạng thông tin truyền thông phong phú. Có lẽ chính vì thế mà văn hóa đọc đang ngày càng trở nên xa lạ đối với đại bộ phận người dân.
Tuy vậy, bản thân tôi nghĩ rằng với những cuốn sách đặc biệt như “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” thì chúng ta nên đọc, hãy đọc để tự mình cảm nhận. Đọc để hiểu và ghi nhớ lịch sử của một thời đại đầy đau thương nhưng hào hùng của đất nước.
Đọc để từ đó biết quý trọng hơn nền hòa bình, độc lập mà chúng ta đang có. Đọc để ngẫm nghĩ và điều chỉnh lối sống của bản thân, để xứng đáng với sự hi sinh lớn lao của các thế hệ đi trước, để không hổ thẹn với chính mình.