Nhà văn Sơn Nam: Người chép sử bằng hương rừng, mật đất

GD&TĐ - Nhà văn Sơn Nam không chỉ là nhà văn, mà còn là nhà báo, nhà khảo cứu - một trí thức bình dân suốt đời gắn bó với đất và người phương Nam.

Chân dung nhà văn Sơn Nam tại nhà lưu niệm. Ảnh: Hy Mã Lạp Sơn.
Chân dung nhà văn Sơn Nam tại nhà lưu niệm. Ảnh: Hy Mã Lạp Sơn.

Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, hiếm có nhà văn nào mà mỗi trang viết lại chuyên chở trọn vẹn hơi thở một vùng đất, lớp trầm tích văn hóa và ký ức cộng đồng sâu dày như Sơn Nam. Ông không chỉ là nhà văn, mà còn là nhà báo, nhà khảo cứu – một trí thức bình dân suốt đời gắn bó với đất và người phương Nam.

Bằng lối văn đậm hương rừng, mặn vị phù sa, Sơn Nam đã “chép sử” cho Nam Bộ theo cách riêng: không bằng những biên niên khô cứng, mà qua các câu chuyện đời thường và những phận người bình dị. Hành trình chữ nghĩa bền bỉ của ông chính là quá trình gìn giữ ký ức tiền nhân giữa dòng chảy hiện đại, để từ đó hiện lên hình ảnh một chứng nhân lịch sử và “thư ký của đất rừng phương Nam”.

Từ bưng biền Miệt Thứ đến bản sắc Nam Bộ

nha-van-son-nam-1.jpg
Bức họa chân dung nhà văn Sơn Nam. Ảnh: Tư liệu.

Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) - vùng đất Miệt Thứ với rừng tràm, bưng biền và sông rạch đan xen. Không gian khắc nghiệt ấy sớm hình thành trong ông cảm thức văn hóa đặc biệt về đất đai, lịch sử mở cõi và thân phận con người phương Nam.

Tuổi thơ của ông gắn bó với ruộng đồng, với những câu chuyện dân gian và ký ức truyền miệng của lớp người đi khai hoang. Đó là thứ “sử miệng” không có trong sách vở chính thống nhưng bền bỉ trong trí nhớ cộng đồng, trở thành chất liệu cốt lõi cho toàn bộ sáng tác sau này.

Bút danh Sơn Nam mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc: tưởng nhớ người phụ nữ Khmer từng nuôi dưỡng ông thuở nhỏ. “Sơn” là họ lớn của người Khmer, “Nam” nhắc đến nguồn cội phương Nam - một lựa chọn cho thấy sự gắn bó với mạch giao thoa văn hóa, lịch sử và tộc người của vùng đất này.

Con đường học vấn của Sơn Nam không dài theo lối hàn lâm. Sau khi học tiểu học ở quê và trung học tại Cần Thơ, ông sớm tham gia cách mạng. Năm 1945, ông gia nhập Thanh niên Tiền phong, rồi công tác tại Hội Văn hóa cứu quốc tỉnh, Phòng Chính trị Quân khu và Phòng Văn nghệ Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ.

Những năm tháng ấy giúp ông sống sâu trong đời sống nhân dân, trực tiếp chứng kiến biến động lịch sử và tích lũy vốn sống phong phú cho sự nghiệp văn chương sau này.

nha-van-son-nam-2.jpg
Nhà văn Sơn Nam để lại gia tài tác phẩm đồ sộ. Ảnh: NXB Trẻ

Văn chương như một hình thức “chép sử” sống động

Sơn Nam bắt đầu sáng tác khá sớm với tập thơ Lúa reo (1948), sau đó là các truyện ngắn Bên rừng Cù Lao Dung, Tây đầu đỏ. Tuy nhiên, phải đến năm 1962, khi Hương rừng Cà Mau ra đời, ông mới thực sự khẳng định vị trí riêng trong văn học Việt Nam.

Với dung lượng hơn 900 trang, Hương rừng Cà Mau không chỉ là tập truyện ngắn mà còn là kho tư liệu văn học phong phú về vùng Tây Nam Bộ thời khẩn hoang. Lịch sử trong tác phẩm không được kể bằng niên đại, mà hiện lên qua những phận người bình dị: người mở đất, dân giang hồ, nông dân, thầy thuốc, nghĩa sĩ, kẻ phiêu bạt. Mỗi câu chuyện là một mảnh ghép, góp phần dựng nên bức tranh đời sống phương Nam sinh động.

Không gian tác phẩm vừa dữ dội vừa cuốn hút, với những hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt như “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”. Thiên nhiên trở thành thử thách, buộc con người phải lanh trí, hiệp nghĩa và gắn bó cộng đồng. Con người Nam Bộ trong trang viết của ông hiện lên chân thực, bình dị, có lúc ngang tàng, khác thường nhưng luôn hồn hậu.

Giọng văn Sơn Nam thong dong, chậm rãi, đậm chất kể chuyện dân gian. Ông không trực tiếp luận bàn triết lý, nhưng qua từng câu chữ vẫn toát lên những quan niệm sống đặc trưng của người Nam Bộ: thuận theo tự nhiên, trọng nghĩa khinh tài và chấp nhận gian khó như một phần của cuộc đời.

Tấm bản đồ văn hóa của miền đất phương Nam

Sau Hương rừng Cà Mau, Sơn Nam tiếp tục mở rộng thế giới văn chương với nhiều tác phẩm như Chim quyên xuống đất, Hình bóng cũ, Vạch một chân trời, Hai cõi U Minh, Vọc nước giỡn trăng, Bà Chúa Hòn… Mỗi tác phẩm là một lát cắt đời sống, góp phần hoàn thiện bức tranh văn hóa Nam Bộ trong văn học Việt Nam.

Trong Mùa len trâu, ông khai thác chu kỳ sinh tồn của người nông dân mùa nước nổi. Tác phẩm không chỉ kể chuyện mưu sinh mà còn thể hiện triết lý sống hòa hợp với thiên nhiên: con người không đối đầu với nước mà thích nghi, sống chung và tận dụng nguồn lợi tự nhiên – một tư duy sinh thái hình thành từ kinh nghiệm dân gian.

Ở mảng khảo cứu - bút ký, các tác phẩm như Gia Định xưa, Người Sài Gòn cho thấy một Sơn Nam của đời sống đô thị. Sài Gòn trong trang viết của ông hiện lên như không gian văn hóa nhiều lớp, nơi ký ức khẩn hoang, thương hồ, di dân và sự giao thoa Đông – Tây cùng tồn tại.

Những ghi chép tỉ mỉ về phong tục, ngành nghề, sinh hoạt đô thị đã biến tác phẩm thành những “hồ sơ ký ức” giàu giá trị, giúp ông được đánh giá cao như một nhà Nam Bộ học. Nhà nghiên cứu Võ Văn Sơn nhận định, sáng tác của ông vừa mang giá trị văn chương vừa có ý nghĩa tư liệu lịch sử – văn hóa, đặc biệt gần gũi với người bình dân.

Diễn giả - nhà nghiên cứu Pascal Bourdeaux (Viện Viễn Đông Bác cổ tại TPHCM) cũng cho rằng Sơn Nam là “pho từ điển sống về Đồng bằng sông Cửu Long”. Dù chủ yếu làm việc bằng trải nghiệm hơn là phương pháp hàn lâm, chính điều đó đã tạo nên sức sống bền bỉ cho tác phẩm, biến văn chương của ông thành con đường tự nhiên để tìm hiểu văn minh sông nước miền Tây.

nha-van-son-nam-3.jpg
Những bức ký họa chân dung nhà văn Sơn Nam tại nhà lưu niệm. Ảnh: Hy Mã Lạp Sơn.

Không gian ký ức của một đời chữ nghĩa

Sơn Nam không viết để trở thành huyền thoại, mà viết để đất không quên người, người không quên đất. Bằng văn chương đậm hương rừng, mật đất, ông lặng lẽ ghi chép lịch sử Nam Bộ qua những trang viết bình dị nhưng bền bỉ. Trong dòng chảy hiện đại, tác phẩm của ông vẫn giữ nguyên sức sống, nhắc nhớ về cội nguồn và ký ức tiền nhân.

Sau khi ông qua đời năm 2008, Khu lưu niệm nhà văn Sơn Nam tại xã Đạo Thạnh, TP Mỹ Tho, Tiền Giang (cũ) – nay thuộc tỉnh Đồng Tháp – được xây dựng như không gian lưu giữ ký ức. Công trình do con gái ông, bà Đào Thúy Hằng, cùng gia đình thực hiện năm 2009 và khánh thành đúng dịp giỗ đầu, như một cách tiếp nối mạch đời và mạch chữ nghĩa.

Ngôi nhà ba gian mái ngói mang kiến trúc truyền thống Nam Bộ, giản dị mà vững chãi, phản ánh tinh thần sống và viết của ông. Lối đi lát 82 khối đá ong tượng trưng cho 82 năm đời người; bên trái là phù điêu chân dung bằng đá, bên phải là bức đá khắc thủ bút bài thơ Hương rừng Cà Mau. Không gian ven sông trồng sú, vẹt, bần, dừa nước – những loài cây gắn bó với sinh thái Nam Bộ mà ông dành cả đời ghi chép.

Trong gian chính là bàn thờ giản dị cùng những vật dụng quen thuộc như máy đánh chữ cũ, áo sờn, bút bi, đồng hồ, mắt kính… Hàng trăm cuốn sách, thủ bút và tư liệu quý được lưu giữ, khiến nơi đây không chỉ là điểm tưởng niệm mà còn là một “thư viện ký ức” về Nam Bộ. Ngày nay, khu lưu niệm trở thành điểm đến quen thuộc của học sinh, sinh viên, nhà nghiên cứu và những người yêu văn chương.

Nhân kỷ niệm 15 năm ngày mất của nhà văn Sơn Nam (2008–2023), Nhà xuất bản Trẻ giới thiệu hai ấn phẩm: Sơn Nam - Những góc đời riêng lạ và Sơn Nam - Đi và ghi nhớ. Trong đó, Sơn Nam - Những góc đời riêng lạ tập hợp những bài viết chân thực, gần gũi của bà Đào Thúy Hằng – con gái lớn của ông – về người cha nổi tiếng với biệt danh “ông già Nam Bộ”.

Cuốn sách mở ra góc nhìn đời thường, giản dị và giàu yêu thương, giúp người đọc cảm nhận rõ hình ảnh Sơn Nam không chỉ là nhà văn tài hoa mà còn là người cha, người ông gần gũi, chân chất, giàu tình cảm gia đình. Qua những ký ức mộc mạc, chân dung ông hiện lên đa diện - từ một trí thức uyên thâm đến con người bình dị giữa đời sống phương Nam.

Sơn Nam để lại gia tài văn chương đồ sộ với nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, biên khảo lịch sử – văn hóa, hồi ký và khảo cứu. Nổi bật ở mảng truyện và tiểu thuyết có “Hương rừng Cà Mau” (1962), “Chim quyên xuống đất” (1963), “Bà chúa Hòn” (1969) – tiểu thuyết lịch sử về Hà Tiên xưa, “Hai cõi U Minh”, “Vọc nước giỡn trăng”.

Ở mảng biên khảo, nghiên cứu văn hóa có “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” (1973) – công trình quan trọng về quá trình mở cõi, “Văn minh miệt vườn” (1970), “Đất Gia Định xưa” (1984), “Người Sài Gòn” (1990), “Cá tính miền Nam” (2000).

Hồi ký gồm “Hồi ký Sơn Nam” (4 tập, 2001–2002) ghi chép hành trình đời người và sự nghiệp, “Từ U Minh đến Cần Thơ” (2000). Ngoài ra còn có “Dạo chơi tuổi già” (1994–1997), “Theo chân người tình” (1990), “Tìm hiểu đất Hậu Giang” (1959) – một trong những công trình khảo sát sớm của ông. Các tác phẩm không chỉ mang giá trị văn học mà còn là nguồn tư liệu quý về lịch sử, văn hóa, phong tục và tâm hồn người Nam Bộ từ thời khẩn hoang đến hiện đại.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ

Học bạ điện tử giúp nâng cao hiệu quả quản lý và chuyển đổi số trong nhà trường. Ảnh minh họa: INT

Học bạ số: Bài toán bảo mật

GD&TĐ - Học bạ số mở ra bước tiến mới trong chuyển đổi số giáo dục, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về bảo mật dữ liệu, an toàn thông tin và bảo vệ quyền riêng tư của học sinh.