Giảm nghèo về thông tin - nội dung xuyên suốt của các chương trình mục tiêu quốc gia
Giai đoạn 2021-2025, thông tin tiếp tục là một trong 6 dịch vụ xã hội cơ bản của chuẩn nghèo đa chiều gồm: Y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và việc làm. Đáng chú ý, nội dung giảm nghèo về thông tin cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được triển khai đồng bộ thông qua 3 Chương trình mục tiêu quốc gia: Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Xây dựng nông thôn mới; Giảm nghèo bền vững.
Với đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, thiếu hụt thông tin đồng nghĩa với việc khó tiếp cận chính sách, khoa học kỹ thuật, thị trường lao động và các dịch vụ thiết yếu.
Để hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tiếp cận thông tin, công tác truyền thông chính sách rất quan trọng. Truyền thông bảo đảm các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến được với người dân một cách kịp thời, dễ hiểu và dễ thực hiện.
Không chỉ dừng ở việc “truyền đạt”, truyền thông còn góp phần tạo đồng thuận xã hội, khuyến khích người dân chủ động tham gia các mô hình sinh kế, từng bước thoát nghèo bền vững.
Theo các chuyên gia, giai đoạn 2025-2030, cần tiếp tục thể chế hóa vai trò của truyền thông trong chiến lược giảm nghèo quốc gia, coi việc huy động sức dân và nguồn lực xã hội là nhiệm vụ lâu dài, thường xuyên, thay vì các phong trào mang tính ngắn hạn.
Nhiều đề xuất cũng đã được đưa ra nhằm đa dạng hóa và bền vững hóa nguồn lực xã hội để nâng cao hiệu quả giảm nghèo. Trong đó, việc xây dựng Quỹ Phát triển cộng đồng cấp tỉnh được kỳ vọng huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và doanh nghiệp; thí điểm mô hình ngân hàng vi mô cộng đồng giúp người nghèo tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn.
Bên cạnh đó, việc phát triển nền tảng số “Kết nối nguồn lực xã hội” nhằm công khai các dự án, nguồn tài trợ và kết quả thực hiện được xem là giải pháp tăng tính minh bạch, hiệu quả….
Chuyển đổi số, tạo năng lực tự thoát nghèo cho người dân
Song song với đó, chuyển đổi số trong quản lý giảm nghèo giúp theo dõi mức độ thiếu hụt của từng hộ một cách thường xuyên, chính xác và giảm áp lực rà soát thủ công cho cán bộ cơ sở.
Thông tin về chính sách, việc làm, đào tạo nghề được truyền tải trực tiếp tới người dân qua mạng xã hội, ứng dụng điện thoại, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và vùng sâu, vùng xa. Qua đó, người dân biết mình được hưởng chính sách gì, cần làm gì để thoát nghèo và không tái nghèo.
Thực tiễn tại nhiều địa phương cho thấy, truyền thông và công nghệ số đã trực tiếp nâng cao hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững.
Tại Hà Tĩnh, Tiểu dự án Giảm nghèo về thông tin được triển khai thông qua hợp tác với 7 cơ quan báo chí, sản xuất 41 sản phẩm truyền thông mới về sản xuất, chăn nuôi, phát triển kinh tế hộ.
Tỉnh cũng biên soạn khoảng 1.000 ấn phẩm truyền thông thiết yếu, hỗ trợ người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận thông tin.
Hay tại Bắc Ninh, ở các thôn, xóm và nhiều khu dân cư đã lắp đặt hệ thống loa truyền thanh thông minh. Các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được nhân rộng, giúp người dân kết nối thị trường thông qua các nền tảng thương mại điện tử.
Nhờ đó, hơn 500 mô hình sinh kế, trong đó có 120 mô hình ứng dụng công nghệ cao, tạo việc làm cho gần 10.000 lao động nghèo và cận nghèo. Sau khi được đào tạo, nhiều người lao động đã từng bước ổn định thu nhập, có cơ hội việc làm tốt hơn.
Giảm nghèo bền vững không chỉ là đưa hộ dân ra khỏi danh sách nghèo, mà quan trọng hơn là tạo năng lực để người dân tự vươn lên. Khi thông tin được coi là “chìa khóa”, khi chính sách đi đúng hướng và người dân trở thành chủ thể, công tác giảm nghèo mới thực sự mang lại giá trị lâu dài.