Nhìn lại 5 năm kỳ thi tốt nghiệp THPT (2021 - 2025): Bức tranh phân hóa qua điểm thi môn Toán

GD&TĐ - Đối sánh kết quả thi tốt nghiệp THPT môn Toán giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy, phía sau mỗi con số không chỉ là độ khó của đề thi hay yếu tố may rủi, mà còn phản ánh độ bền của cả hệ thống dạy và học.

Học sinh dự thi đánh giá năng lực vào đại học trên máy tính tại Trường Đại học Đồng Tháp, năm 2026. Ảnh: DThU
Học sinh dự thi đánh giá năng lực vào đại học trên máy tính tại Trường Đại học Đồng Tháp, năm 2026. Ảnh: DThU

Khi đề thi Toán chuyển mạnh sang đánh giá năng lực tư duy và khả năng vận dụng, sự phân hóa vùng miền hiện lên rõ rệt hơn bao giờ hết.

Điểm trung bình chưa đạt 7,0

Môn Toán là môn học khó, có tính cạnh tranh cao vì vừa là môn bắt buộc trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, vừa giữ vai trò trụ cột trong nhiều tổ hợp xét tuyển đại học. Không chỉ góp phần rèn luyện tư duy logic và năng lực toán học, Toán còn là môn công cụ của giáo dục STEM, tạo nền tảng cho việc học các môn khoa học khác.

Những năm qua, việc dạy và học Toán luôn được quan tâm đầu tư trong tiến trình đổi mới giáo dục. Tuy nhiên, kết quả thi vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Giai đoạn 2021–2025, điểm trung bình môn Toán toàn quốc không năm nào chạm mốc 7,0 điểm: năm 2021 đạt 6,61; năm 2022 là 6,47; năm 2023 giảm còn 6,25; năm 2024 đạt 6,45; và năm 2025 giảm sâu xuống 4,78 điểm – mức thấp nhất trong 5 năm.

Nguyên nhân chủ yếu là do đề thi năm 2025 có độ khó cao hơn, đồng thời bổ sung các dạng câu hỏi đúng/sai và trả lời ngắn, tăng cường yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều này buộc học sinh phải thể hiện năng lực thực chất thay vì làm bài theo lối may rủi.

Kết quả đối sánh 63 tỉnh, thành phố (trước khi sáp nhập) cho thấy chất lượng môn Toán phân hóa vùng miền rất rõ. Các địa phương có truyền thống giáo dục mạnh như Nam Định, Bình Dương, TP.HCM, Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng… thường xuyên nằm trong nhóm dẫn đầu, trong khi nhiều tỉnh miền núi, vùng khó khăn chủ yếu ở nhóm cuối. Riêng năm 2025, chỉ có 11 địa phương đạt điểm trung bình trên 5 (17,5%), còn lại 52 địa phương dưới 5 điểm, trong đó có 7 địa phương dưới 4,0 điểm. Đối sánh theo điểm bình quân 5 năm cho thấy các địa phương có thể chia thành ba nhóm: Từ 6,5 điểm trở lên; từ 6,0 đến dưới 6,5; và dưới 6,0 điểm.

nhin-lai-5-nam-ky-thi-tot-nghiep-thpt2.jpg

Nhóm dẫn đầu có điểm bình quân từ 6,5 trở lên

Nhóm này gồm 9 địa phương, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng có 7 và Đông Nam Bộ có 2. Cụ thể, Nam Định là địa phương dẫn đầu trong 5 năm với điểm bình quân đạt 6,972; tiếp đến là Bình Dương (6,767), TP.HCM (6,676), Vĩnh Phúc (6,605), Hà Nam (6,590), Thái Bình (6,574), Ninh Bình (6,572), Bắc Ninh (6,549) và Hải Phòng (6,505).

Các địa phương này thường xuyên góp mặt trong top 10 giai đoạn 2021–2025. Điều đó cho thấy, kết quả môn Toán không thể là thành quả ngắn hạn, mà là sự kết tinh của một quá trình đầu tư bền bỉ, từ giải pháp chuyên môn, chất lượng đội ngũ giáo viên đến cách tổ chức dạy học ở cả bậc THCS và THPT.

Đáng chú ý, nhiều tỉnh không phải là trung tâm kinh tế lớn nhưng vẫn duy trì vị trí cao nhờ coi trọng dạy học Toán như một năng lực nền tảng của giáo dục phổ thông, đồng thời giữ được chất lượng tương đối đồng đều giữa các trường. Ở những nơi này, học sinh được rèn luyện tư duy logic, khả năng đọc – hiểu các dạng đề có nhiều dữ kiện và phương pháp giải toán nhanh, chắc chắn, mạch lạc, thay vì chỉ dựa vào mẹo hay suy đoán.​

nhin-lai-5-nam-ky-thi-tot-nghiep-thpt-2.png

Nhóm trung bình khá: Đúng thực lực

Nhóm địa phương xếp hạng khoảng từ 10–35 phản ánh tương đối đúng mặt bằng môn Toán của cả nước. Đây là nhóm phân bố rộng, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 8 địa phương; Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có 6; Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ, mỗi vùng có 3; Trung du và miền núi phía Bắc có 2.

Đây không đơn thuần là câu chuyện về chất lượng dạy học, mà còn là bài toán quản trị giáo dục đại trà trong bối cảnh học sinh có nhiều lựa chọn về định hướng nghề nghiệp, khiến môn Toán không còn là môn được mọi nhóm học sinh đầu tư mang tính chiến lược như trước.​

Nhóm cuối bảng: Thách thức dài hạn

Nhóm này gồm 29 địa phương, chủ yếu thuộc miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và một số tỉnh miền Trung. Những địa phương này còn gặp nhiều hạn chế về điều kiện kinh tế - xã hội, đội ngũ giáo viên và đặc biệt là nền tảng ngôn ngữ học thuật của học sinh.

Khi học sinh còn gặp khó trong việc đọc – hiểu đề Toán, các yêu cầu tư duy bậc cao rất dễ trở thành rào cản lớn, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả làm bài. Vì vậy, cần có những giải pháp dài hạn nhằm bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và tăng cường hỗ trợ học sinh xây dựng nền tảng tiếng Việt học thuật ngay từ cấp THCS.

nhin-lai-5-nam-ky-thi-tot-nghiep-thpt-3.png

Năm 2025: Miền Bắc, miền Trung tăng; miền Tây giảm hạng

Năm 2025, đề thi Toán có sự thay đổi lớn theo hướng khó hơn và đánh giá năng lực thực chất, yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề gắn với thực tiễn. Trong bối cảnh đó, những địa phương chủ động đổi mới dạy học, kiểm tra và đánh giá đã giúp các em thích ứng nhanh hơn với yêu cầu mới. Ngược lại, các địa phương chậm đổi mới, còn nặng về luyện đề mẫu, khiến học sinh gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận đề thi theo định hướng năng lực.

Kết quả thi năm 2025 phản ánh rõ sự khác biệt này. Nhiều địa phương phía Bắc và miền Trung tăng hạng mạnh so với năm 2024, tiêu biểu như Quảng Ngãi (tăng 12 bậc), Nghệ An (11 bậc), Khánh Hòa (10 bậc), Bắc Giang và Quảng Nam (9 bậc), Quảng Trị và Quảng Ninh (8 bậc), cùng Hà Nội, Hưng Yên, Huế, Hà Tĩnh, Phú Thọ, Đồng Nai, Thanh Hóa và Đắk Lắk (cùng tăng 7 bậc).

Ở chiều ngược lại, Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận 10 địa phương giảm hạng, trong đó Vĩnh Long giảm 25 bậc, An Giang giảm 17 bậc, Đồng Tháp giảm 15 bậc, Bạc Liêu giảm 11 bậc, Cần Thơ và Bến Tre cùng giảm 9 bậc. Thực tế này cho thấy mô hình dạy học Toán ở khu vực này cần được điều chỉnh kịp thời để phù hợp hơn với yêu cầu đánh giá năng lực.​

Những bài học lớn

Thứ nhất, môn Toán phản ánh khá rõ độ bền của hệ thống giáo dục địa phương. Những tỉnh, thành có thứ hạng cao trong nhiều năm liền không phải nhờ một vài khóa học sinh nổi trội, mà bởi duy trì được nền tảng dạy học Toán theo hướng đổi mới, đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực.

Thứ hai, sự thay đổi của đề thi là phép thử trực diện đối với cách dạy học. Khi đề Toán chuyển sang đánh giá năng lực vận dụng và lập luận, những nơi dạy học thiên về luyện dạng, mẹo giải nhanh sẽ bộc lộ sự hụt hơi. Vì vậy, sự sụt giảm điểm năm 2025 không chỉ mang tính nhất thời, mà còn cho thấy rõ khoảng cách giữa “dạy để thi” và “dạy để hiểu”.

Thứ ba, Toán học là một trong những môn học bộc lộ rõ sự phân hóa vùng miền. Với các tỉnh miền núi, vùng khó khăn, hạn chế không chỉ nằm ở điều kiện học tập, mà còn ở nền tảng ngôn ngữ học thuật và chất lượng đội ngũ giáo viên, khiến việc tiếp cận đề Toán mới trở thành thách thức lớn.

Thứ tư, các đô thị lớn không mặc nhiên có lợi thế tuyệt đối. Quy mô thí sinh đông và mức độ phân hóa nội – ngoại thành cao khiến điểm trung bình và thứ hạng của các đô thị dễ biến động, từ đó đặt ra yêu cầu cao hơn trong quản trị chất lượng môn Toán trên mặt bằng chung.

Thứ năm, môn Toán năm 2025 cho thấy mức độ phân hóa học sinh rất mạnh. Mặc dù điểm trung bình năm 2025 chỉ đạt 4,78 nhưng vẫn có tới 513 điểm 10, trong khi năm 2024 điểm trung bình là 6,45 nhưng không có điểm 10 nào. Điều đó cho thấy, khi đề thi ngày càng đòi hỏi tư duy, học sinh không còn có thể trông chờ vào các dạng quen thuộc để đạt điểm khá.

Cuối cùng, đối sánh 5 năm cho thấy Toán học cần được đầu tư bài bản, dài hơi. Những địa phương có bước tiến bền vững đều có điểm chung là chú trọng đầu tư cho giáo viên, coi trọng nền tảng từ bậc học dưới và không chạy theo thành tích ngắn hạn.

Muốn nâng cao chất lượng Toán học phổ thông, cần chuyển trọng tâm từ ‘làm đúng - làm nhanh’ sang phát triển tư duy toán học. Học sinh cần được rèn luyện năng lực đọc hiểu đề, suy luận, mô hình hóa và vận dụng toán học vào các bối cảnh gần với đời sống.

Cùng với đó là chiến lược phân tầng trong dạy học: những nơi có nền tảng tốt cần hướng tới phát triển tư duy bậc cao, STEM và khoa học dữ liệu; những nơi còn khó khăn cần ưu tiên củng cố nền tảng tối thiểu, tránh để học sinh ‘mất gốc’ kéo dài. Công tác bồi dưỡng giáo viên cũng cần đi vào chiều sâu, không chỉ dừng ở kỹ thuật ra đề hay luyện thi.

Trong bối cảnh công nghệ và trí tuệ nhân tạo ngày càng đảm nhiệm tốt các thao tác tính toán, giá trị cốt lõi của Toán học nằm ở tư duy, chứ không phải ở việc tìm ra đáp án nhanh nhất. Đối sánh 5 năm cho thấy, chất lượng Toán học không đến từ may mắn, mà đến từ sự bền bỉ và nhất quán trong cách dạy và học. Đây cũng chính là bài toán lớn mà giáo dục phổ thông cần giải trong giai đoạn 2026-2030.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ