Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần đồng thời tạo đột phá từ chính sách quốc gia và nội lực của các trường đại học.
Với yêu cầu này, theo PGS.TS Trần Thành Nam - Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), Việt Nam có nhiều ưu thế, nhưng cũng đang đối mặt không ít thách thức trước khi hình thành các đại học tinh hoa thật sự.
Cơ hội, thách thức cần vượt qua
- Theo ông, những ưu thế của Việt Nam khi hình thành các đại học tinh hoa là gì?
- Điều kiện thuận lợi của giáo dục đại học Việt Nam trước hết là đã có chủ trương, chính sách rõ ràng. Đảng và Nhà nước xác định xây dựng một số đại học đẳng cấp khu vực, quốc tế là nhiệm vụ chiến lược.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nêu rõ yêu cầu: Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, trọng tâm là nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.
Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo giao Bộ GD&ĐT chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan “xây dựng Đề án triển khai cơ chế, chính sách đầu tư mạnh và có các cơ chế đặc thù, vượt trội để phát triển 3 đến 5 đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới, đào tạo nhân tài quốc gia”.
Những chính sách này tạo động lực mạnh mẽ, khuyến khích và cam kết đầu tư trọng điểm cho các trường trọng điểm.
Thứ hai, tự chủ đại học đã đem lại kết quả tích cực. Nhiều đại học công lập, đặc biệt là các cơ sở trọng điểm, đã đi trước trong lộ trình tự chủ, nâng cao chất lượng đào tạo và hợp tác quốc tế. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 25 trường đại học được xếp hạng trong bảng QS châu Á 2026, trong đó ĐHQGHN dẫn đầu (hạng 158) và ĐHQG TPHCM (hạng 175) cùng góp mặt. Xu hướng này cho thấy các trường hàng đầu đang khẳng định tiến trình hội nhập và cải thiện vị thế.
Nhiều trường cũng đã xây dựng chương trình, phòng thí nghiệm hiện đại và nhóm nghiên cứu mạnh, như 125 chương trình đào tạo của ĐHQG TPHCM đều đã đạt tiêu chuẩn kiểm định quốc tế.
Ngoài ra, giáo dục đại học Việt Nam đang phát triển đội ngũ nhân lực nghiên cứu: hiện có hơn 13.000 nghiên cứu sinh theo học và gần 1.200 tiến sĩ tốt nghiệp mỗi năm, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Kết quả đó cho thấy nếu trao đủ quyền chủ động, trách nhiệm cho các trường, giáo dục đại học có thể vận hành hiệu quả hơn, phát huy thế mạnh riêng và thu hút nhân lực tài năng.
- Bên cạnh thuận lợi nói trên, đâu là thách thức cần phải vượt qua, thưa ông?
- Dù có lợi thế nhất định, nhưng để tiến tới chuẩn mực tinh hoa, giáo dục đại học Việt Nam cũng đối mặt với không ít thách thức.
Thứ nhất là thiếu hụt nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao. Tỷ lệ giảng viên còn thấp so với các nước tiên tiến. Điều này hạn chế khả năng hướng dẫn nghiên cứu sâu và tạo ra công trình chất lượng. Mặc dù số lượng nghiên cứu sinh tăng nhanh, nhưng cần nhiều nhà nghiên cứu giỏi để nâng cao chất lượng đầu ra.
Bên cạnh đó, việc phát hiện, thu hút nhân tài đầu vào cũng là thách thức. Việc nhận diện người tài theo các tiêu chí mong muốn là điều rất khó khăn. Các chương trình ưu tiên - như tuyển sinh thẳng hay đào tạo chất lượng cao - vẫn chưa đủ để đảm bảo nguồn sinh viên xuất sắc cho các đại học tinh hoa.
Thứ hai, đầu tư và hạ tầng còn khiêm tốn. Việt Nam đang chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) còn thấp so với các nước ASEAN khác. Hệ quả là công bố khoa học quốc tế trên đầu người của Việt Nam vẫn thấp hơn khu vực, chỉ khoảng 1,24 bằng sáng chế mỗi triệu dân. Hệ thống viện nghiên cứu, trường đại học còn thiếu liên kết bền vững với doanh nghiệp, dẫn đến nhiều kết quả nghiên cứu chưa được chuyển giao, ứng dụng.
Hạ tầng cho R&D (phòng thí nghiệm, công nghệ thông tin) chưa đồng bộ, làm giảm năng lực đổi mới sáng tạo. Trong nước cũng thiếu quỹ nghiên cứu đủ mạnh và cơ chế khuyến khích đầu tư dài hạn như các nước phát triển.
Thứ ba, chúng ta đã có những nghị quyết đột phá, có Luật mới nhưng việc thực thi tự chủ vẫn còn có bất cập. Ví dụ, quy định còn khắt khe về chi tiêu, tuyển dụng và kiểm định chất lượng làm hạn chế sáng tạo trong quản lý. Nhiều địa phương, viện/nghiên cứu cũng chưa hài hòa liên kết với trường đại học. Chưa kể, hệ thống học thuật chưa thực sự tạo điều kiện linh hoạt cho nghiên cứu đột phá.
Đột phá chính sách và nội lực các trường đại học
- Với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, theo ông đâu là những cải cách chính sách chiến lược không thể thiếu để hình thành đại học tinh hoa?
- Đầu tiên, theo tôi cần có cơ chế tài chính đặc thù, nguồn lực đủ mạnh, chính sách vượt trội để xây dựng hạ tầng khoa học, thu hút nhân tài trong và ngoài nước. Ví dụ, ngân sách đầu tư cho các đại học trọng điểm cần ưu tiên tăng gấp nhiều lần so với hiện nay. Không đầu tư dàn trải mà tập trung đầu tư trọng điểm cho 2-5 đại học tinh hoa đầu tiên.
Cơ chế đặc thù nên cho phép trường ký kết các hợp đồng quốc tế, phát hành học bổng nước ngoài, tuyển dụng nhân sự theo định mức riêng. Nhà nước cũng cần rà soát và đơn giản hóa các quy định hành chính để đại học được tự chủ tối đa, đồng thời yêu cầu trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Thứ hai là khuyến khích hợp tác, hội nhập quốc tế. Chính phủ cần thúc đẩy liên kết “3 bên” giữa nhà trường - viện nghiên cứu - doanh nghiệp, tạo điều kiện cho trường hợp tác nghiên cứu quốc tế. Các chính sách hỗ trợ tài trợ nghiên cứu từ ngân sách cũng cần ưu tiên cho các dự án quốc tế và các nhóm nghiên cứu mạnh, đặc biệt là hỗ trợ hậu tiến sĩ.
Việc cải cách quy chế mời chuyên gia nước ngoài và thu hút giảng viên nước ngoài là rất quan trọng. Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với các nhà khoa học giỏi (có thể tham khảo chương trình “Nhà khoa học xuất sắc”), ví dụ tạo điều kiện định cư, hưởng lương cạnh tranh và cấp vốn nghiên cứu rời rạc.
Thứ ba là nâng chuẩn đánh giá và đảm bảo chất lượng. Cần xây dựng khung trình độ, tiêu chuẩn nghề nghiệp giảng viên theo chuẩn quốc tế, khuyến khích các trường tự định danh chất lượng của mình. Việc đưa các trường trọng điểm vào kiểm định theo chuẩn quốc tế, như AUN-QA hay AACSB, sẽ tạo áp lực nâng cao chất lượng đào tạo. Bên cạnh đó, công khai kết quả đào tạo, nghiên cứu và xếp hạng trường trong nước sẽ tạo sức ép cải tiến.
Thứ tư là hỗ trợ tài chính và xã hội hóa. Nhà nước nên tạo hành lang pháp lý cho mô hình đại học tư thục phi lợi nhuận phát triển. Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư giáo dục, đóng góp quỹ tài trợ, tạo chính sách ưu đãi thuế cho các đóng góp này.
Thứ năm, tăng cường hội nhập và học tập kinh nghiệm. Chính sách quốc gia cần thiết lập cơ chế trao đổi sinh viên, giảng viên quốc tế rộng hơn. Nhà nước cần tiếp tục thực hiện hợp tác quốc tế, ký kết với các mạng lưới đại học hàng đầu và các viện nghiên cứu uy tín. Ngoài ra, các cơ chế trao đổi học thuật và chương trình đồng cấp bằng cần được mở rộng; ví dụ mở thêm các chương trình liên kết với các đại học top đầu thế giới và cho phép xuất nhập cảnh nghiên cứu dễ dàng hơn.
- Bên cạnh chính sách của Nhà nước, để chuyển mình thành đại học tinh hoa, trường đại học cần nỗ lực đột phá mạnh mẽ từ bên trong như thế nào?
- Về nỗ lực nội tại của cơ sở giáo dục đại học, tôi cho rằng, vấn đề đầu tiên cần chú trọng là quản trị đại học tự chủ, minh bạch. Nhà trường cần tăng cường quyền chủ động trong tuyển dụng nhân sự chất lượng, giao quyền quyết định chỉ tiêu tuyển sinh và đổi mới chương trình đào tạo.
Đơn cử như ĐHQGHN, cần thiết lập hội đồng tư vấn chiến lược cấp cao để định kỳ đánh giá lộ trình phát triển. Việc tự chủ đi liền trách nhiệm giải trình sẽ buộc các trường xác định rõ mục tiêu, chuẩn đầu ra và hiệu quả đào tạo, nghiên cứu. Một mô hình quản trị căn cứ kết quả cũng đã được đề xuất, ví dụ cấp kinh phí “giao khoán theo kết quả 3-5 năm” cho các đơn vị nghiên cứu xuất sắc.
Thứ hai, thu hút, phát triển nhân tài tinh hoa. Nhà trường cần chính sách đãi ngộ đặc biệt cho đội ngũ ưu tú. Có thể thành lập Quỹ tài năng để cấp học bổng, hỗ trợ nghiên cứu cho giảng viên xuất sắc và nghiên cứu sinh giỏi. Đồng thời, đẩy mạnh hợp tác với chuyên gia quốc tế, kiều bào. Các trường cũng nên khuyến khích mời giảng viên kiêm nhiệm từ viện nghiên cứu, tạo môi trường đa dạng ý tưởng. Đầu tư sớm, nâng cao chất lượng đầu vào (trường chuyên, hệ tài năng) và duy trì chương trình đào tạo chất lượng cao là then chốt.
Thứ ba, nghiên cứu đỉnh cao và đào tạo chuyên sâu với việc xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc (COE) theo thế mạnh của trường, gắn với các ngành chiến lược (AI, bán dẫn, năng lượng mới, công nghệ sinh học…). Như ĐHQGHN, cần tập trung phát triển ít nhất 30 nhóm nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế (ghi nhận trên các tạp chí hàng đầu).
Đồng thời, chương trình đào tạo sau đại học phải đóng vai trò thúc đẩy nghiên cứu: Mỗi COE nên tham gia giảng dạy chương trình thạc sĩ và tiến sĩ, tạo môi trường “học và làm” cho sinh viên tài năng. Chuyển giao tri thức cũng cần được khuyến khích, ví dụ thưởng sáng chế, khuyến khích liên doanh với doanh nghiệp ngay từ khi nghiên cứu.
Thứ tư, đổi mới hạ tầng và công nghệ với việc xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, môi trường số hóa để hỗ trợ nghiên cứu, học tập. Ví dụ, ĐHQGHN cần trở thành trung tâm nghiên cứu các công nghệ chiến lược như AI, bán dẫn, robot, năng lượng mới. Một đô thị đại học thông minh, xanh tích hợp công nghệ (IoT, năng lượng sạch, giao thông thông minh…) sẽ trở thành môi trường thực nghiệm lý tưởng.
Thiết lập mạng lưới dữ liệu lớn, hệ thống quản lý IoT trong khuôn viên sẽ tối ưu hóa tác vụ nghiên cứu, đào tạo. Khi trường được trang bị hạ tầng kỹ thuật cao và khuyến khích sáng tạo công nghệ, điều này không chỉ thu hút nhân lực chất lượng mà còn tạo ra giá trị ứng dụng phục vụ doanh nghiệp, xã hội.
Thứ năm, phát triển tài chính đa dạng, bền vững. Để không phụ thuộc quá nhiều vào ngân sách Nhà nước, các trường cần xây dựng quỹ nội bộ và thu hút đầu tư. Mô hình endowment cho giáo dục, doanh nghiệp hỗ trợ nghiên cứu và chia sẻ lợi nhuận khoa học nên được khuyến khích.
Đồng thời, cơ chế phân bổ tài chính minh bạch theo kết quả sẽ giúp các đơn vị chủ động đầu tư cho giảng viên, thiết bị thí nghiệm, dự án khoa học. Ví dụ, trường có thể giữ một phần doanh thu từ dịch vụ đào tạo và bản quyền để tái đầu tư cho khoa học. Trong dài hạn, mục tiêu là tăng tỷ trọng thu từ nghiên cứu và đổi mới lên mức đủ lớn để tự duy trì hoạt động khoa học.
- Trân trọng cảm ơn ông!
“Xây dựng đại học tinh hoa đích thực là một quá trình dài hơi, đòi hỏi phối hợp đồng bộ trong và ngoài nhà trường. Trường đại học cần đặt lợi ích quốc gia, chất lượng đào tạo, nghiên cứu lên hàng đầu, thực hiện quản trị hiệu quả, phát triển đồng bộ nhân lực, cơ sở vật chất. Về phía Nhà nước, cơ chế đột phá và đầu tư chiến lược phải song hành, từ chính sách tự chủ mở rộng đến khuyến khích đổi mới sáng tạo, quốc tế hóa.
Nếu thực thi quyết tâm cải cách “nhất quán chiến lược 6 trụ cột” và ưu tiên nguồn lực cho đầu tư khoa học công nghệ, chúng ta hoàn toàn có khả năng hiện thực hóa tầm nhìn đại học tinh hoa. Kết quả của nỗ lực này sẽ không chỉ nằm trong bảng xếp hạng quốc tế mà quan trọng hơn là đóng góp thiết thực cho sự phát triển bền vững của đất nước”, PGS.TS Trần Thành Nam.