Mong tiếng nói từ cơ sở được lắng nghe
Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XVI diễn ra trong thời điểm cả nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với nhiều yêu cầu lớn về đổi mới, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ở Điện Biên, nơi còn nhiều điểm trường nằm xa trung tâm, đường đến lớp vẫn nhiều cách trở, phiên họp của Quốc hội được dõi theo với niềm chờ đợi rất thực tế. Với nhiều nhà giáo vùng cao, Quốc hội không chỉ là nơi quyết định những vấn đề lớn của đất nước, mà còn là nơi họ gửi gắm tâm tư về giáo dục, về nghề dạy học và về tương lai học trò nơi bản xa.
Thầy Lê Văn Tuấn, giáo viên Trường THPT Trần Can, xã Na Son, bày tỏ kỳ vọng Quốc hội tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt cho giáo dục và đào tạo, xây dựng nền giáo dục hiện đại, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Từ thực tế công tác ở địa bàn đặc biệt khó khăn, thầy mong Quốc hội dành nhiều thời gian thảo luận để đưa ra giải pháp, lộ trình cụ thể nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời quan tâm hơn tới Luật Nhà giáo, các quy định liên quan đến hoạt động dạy học và đời sống của đội ngũ giáo viên. Theo thầy, chỉ khi người thầy yên tâm với nghề, họ mới có thể dành trọn trí tuệ và tâm huyết cho sự nghiệp đào tạo con người.
Chia sẻ của thầy Tuấn cũng chạm tới một vấn đề lâu nay vẫn còn nhiều trăn trở: thu nhập và sức hút của nghề giáo. Theo thầy, mức lương hiện nay chưa tương xứng với áp lực nghề nghiệp và yêu cầu công việc, vì thế không nhiều học sinh giỏi lựa chọn ngành sư phạm như một đích đến lâu dài. Mong mỏi của thầy, sâu xa hơn, là nghề giáo được nhìn nhận công bằng hơn và được tiếp sức bằng chính sách đủ mạnh để giữ chân người làm nghề.
Cùng chung mạch suy nghĩ ấy, cô Bạc Linh Thảo, giáo viên Trường PTDTBT THCS Ta Ma, xã Pú Nhung, mong Quốc hội quan tâm hơn tới cơ chế đặc thù cho giáo dục vùng khó; trong đó có lương, phụ cấp, nhà công vụ, phương tiện đi lại và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ cho giáo viên vùng sâu, vùng xa. Với những giáo viên trẻ chọn bản làng làm nơi cống hiến, đó không chỉ là hỗ trợ vật chất, mà còn là sự ghi nhận để họ có thêm niềm tin gắn bó với nghề.
Nỗi niềm từ lớp học mầm non vùng cao
Tại Trường Mầm non Nậm Nhừ, xã Nà Hỳ, năm học 2025–2026 nhà trường đang duy trì 17 lớp với 495 trẻ, huy động ra lớp đạt 100% kế hoạch, giữ vững phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, đồng thời tổ chức ăn bán trú cho 100% trẻ. Nhà trường cũng chú trọng tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc và từng bước ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giảng dạy.
Tuy vậy, phía sau những kết quả ấy vẫn là nhiều khó khăn. Địa bàn vùng cao, giao thông đi lại khó khăn, nhiều điểm trường lẻ xa trung tâm, cơ sở vật chất còn thiếu và xuống cấp; đặc biệt, nhà trường còn thiếu 8 giáo viên so với định mức. Từ thực tế đó, cô Lò Thị Nga mong muốn có phụ cấp ưu đãi riêng cho giáo viên mầm non, đồng thời có chế độ phù hợp cho giáo viên tham gia công tác phổ cập giáo dục trẻ 5 tuổi. Còn cô Lường Thị Binh mong được bổ sung thêm giáo viên và quan tâm bê tông hóa đường đi để việc đến trường, bám lớp thuận lợi hơn. Những mong muốn ấy giản dị nhưng phản ánh rất rõ khó khăn của giáo dục mầm non vùng cao hôm nay.
Không chỉ là câu chuyện chế độ, đó còn là mong mỏi những vấn đề đã được chỉ ra từ cơ sở như thiếu biên chế, thiếu cơ sở vật chất, điều kiện đi lại khó khăn sẽ được nhìn nhận ở tầm cao hơn và có giải pháp rõ hơn trong thời gian tới.
Kỳ vọng vào những quyết sách chạm tới bản xa
Tại xã Pú Nhung, Trường Mầm non Ta Ma có 17 lớp với 535 học sinh, trong đó trẻ 5 tuổi là 125 em; đội ngũ gồm 42 cán bộ, giáo viên, nhân viên. Nhà trường duy trì tốt công tác huy động trẻ ra lớp, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, tăng cường hoạt động trải nghiệm và từng bước sử dụng giáo án điện tử, chữ ký số trong quản lý, giảng dạy.
Tuy nhiên, theo cô Nguyễn Hải Nhung, Hiệu trưởng nhà trường, một số điểm trường còn xa trung tâm, cơ sở vật chất chưa đồng bộ, vẫn còn phòng học và nhà bếp chưa được xây dựng kiên cố, nhiều điểm trường chưa có mái che; trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi còn thiếu, trong khi 99,8% học sinh là người dân tộc thiểu số nên kỹ năng giao tiếp tiếng Việt còn hạn chế. Từ thực tế đó, nhà trường kiến nghị tiếp tục ưu tiên đầu tư cho giáo dục mầm non vùng đặc biệt khó khăn, hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và nâng cao năng lực cho đội ngũ.
Ở góc nhìn rộng hơn, cô Bạc Linh Thảo cũng mong có thêm đầu tư cho hạ tầng công nghệ số, thư viện, phòng máy tính, internet để học sinh vùng cao thu hẹp khoảng cách tri thức; đồng thời quan tâm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong nhà trường và mở rộng học bổng, hỗ trợ nội trú, tạo thêm cơ hội cho học sinh nghèo đi tiếp con đường học tập.
Từ Na Son, Nà Hỳ đến Pú Nhung, những tâm tư của nhà giáo vùng cao Điện Biên gặp nhau ở một điểm chung: mong Quốc hội lắng nghe tiếng nói từ cơ sở và chuyển hóa thành những quyết sách chạm tới tận bản xa. Đó là kỳ vọng vào chính sách tốt hơn cho đội ngũ, sự đầu tư rõ hơn cho trường lớp, thiết bị, chuyển đổi số và những điều kiện công bằng hơn để học sinh miền núi được học tập, trưởng thành. Khi người thầy vùng cao nói về Quốc hội, họ đang nói từ chính lớp học của mình, từ con đường đến trường của học trò và từ niềm tin rằng nghị trường sẽ tiếp thêm điểm tựa cho giáo dục nơi khó khăn nhất.