Đổi mới tư duy giáo dục công dân toàn cầu cho thế hệ trẻ

GD&TĐ - Bước vào kỷ nguyên mới với nhiều yêu cầu ngày càng cao đối với thế hệ trẻ, các chuyên gia, nhà giáo nhấn mạnh việc tạo động lực học tập, nuôi dưỡng tư duy sáng tạo và tinh thần công dân toàn cầu cho người học.

Một lớp học của Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Hồng Quang (Tuyên Quang). Ảnh: Mai Huệ
Một lớp học của Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Hồng Quang (Tuyên Quang). Ảnh: Mai Huệ

Qua đó khẳng định vai trò then chốt của giáo viên và nhà trường trong việc hình thành mục tiêu sống.

Cơ hội và thách thức

Tại tọa đàm “Học và hỏi trong cơn bão AI” do Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán và Anbooks tổ chức, bà Lê Thị Mai Hương – Hiệu trưởng Trường Tiểu học Ban Mai (Hà Nội) cho rằng, trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang thâm nhập vào nhà trường với mức độ khác nhau, tạo ra những tác động rõ nét đến hoạt động dạy học. Theo bà, từ khi AI xuất hiện, khoảng cách về năng lực giữa đội ngũ giáo viên ngày càng bộc lộ rõ. Có giáo viên sử dụng AI thành thạo, hiệu quả, song có trường hợp khiến người quản lý lo ngại.

“Có giáo viên nghĩ rằng, mình đang ứng dụng AI hoặc đang dạy học sinh đúng cách, nhưng thực tế không phải như vậy”, bà Mai Hương bày tỏ, đồng thời khẳng định, trong bối cảnh hiện nay, việc sử dụng AI trong trường học là tất yếu, đặc biệt với giáo viên, từ khâu xây dựng ý tưởng, thiết kế bài giảng đến kiểm tra, đánh giá thông qua các trò chơi học tập. Tại Trường Tiểu học Ban Mai, nhà trường đã tổ chức nhiều đợt tập huấn, giúp giáo viên có cái nhìn tổng thể về AI, từng bước tiếp cận các phần mềm, ứng dụng, thực hành và báo cáo kết quả.

Tuy nhiên, theo bà Mai Hương, thách thức lớn nằm ở khâu duy trì và kiểm soát việc thực hiện sau đào tạo. Một số giáo viên quay lại cách dạy truyền thống do hạn chế về năng lực công nghệ thông tin hoặc thiếu thời gian đầu tư cho bài giảng. “Ở vai trò quản lý, tôi phải đồng hành cùng giáo viên bằng việc thực hành, kiểm tra, giám sát hằng ngày”, bà Mai Hương nhấn mạnh.

Trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, GS.TS Lê Anh Vinh – Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho rằng, giáo dục Việt Nam đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, hướng tới nền giáo dục chất lượng, công bằng, nhân văn, hiện đại và hội nhập quốc tế. Theo ông Vinh, đổi mới giáo dục cần được tiếp cận theo mục tiêu mới, với trọng tâm là ba trụ cột chiến lược: Đổi mới quản trị, đổi mới chương trình và đẩy mạnh hội nhập quốc tế.

Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam nhấn mạnh, hệ thống giáo dục cần một mô hình quản trị hiện đại, minh bạch, linh hoạt và hiệu quả; các chương trình giáo dục mở, dựa trên năng lực, nuôi dưỡng tư duy sáng tạo của người học; đồng thời thúc đẩy tinh thần hội nhập chủ động để tiếp thu tinh hoa quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực. “Đổi mới phải được triển khai nhất quán, kiên trì và hiệu quả, để giáo dục thực sự trở thành động lực then chốt đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững và hội nhập với thế giới”, ông Vinh nhấn mạnh.

Trong bối cảnh phát triển mới, ông Vinh gợi mở bốn vấn đề lớn đặt ra đối với giáo dục. Thứ nhất, giáo dục cần theo kịp xu hướng toàn cầu nhưng phải phù hợp với bối cảnh Việt Nam, như đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, đưa trí tuệ nhân tạo vào trường học, hình thành thế hệ học sinh toàn cầu nhưng vẫn giữ vững bản lĩnh và bản sắc văn hóa Việt.

Thứ hai, tiếp cận giáo dục theo hướng hệ thống nhưng lấy con người làm trung tâm, bảo đảm mọi hoạt động dạy và học đều hướng tới phát triển mỗi học sinh. Thứ ba, giáo dục cần đóng vai trò nền tảng cho tương lai, góp phần phát triển toàn diện thế hệ trẻ. Thứ tư, cần chuyển hóa thách thức thành cơ hội, tạo động lực cho giáo dục và đất nước phát triển trong giai đoạn mới.

doi-moi-tu-duy-giao-duc-cong-dan-toan-cau-cho-the-he-tre-1.jpg
Chuyên gia hướng dẫn học sinh Trường THCS Cầu Giấy (Hà Nội) thực hành lắp ráp robot. Ảnh: NTCC

Từ nghị quyết đến lớp học

Theo TS Trần Thị Phương Nam – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục nguồn nhân lực (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam), Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71) và Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết 57) đều khẳng định vai trò mang tính quyết định của nguồn nhân lực trong bối cảnh đổi mới và chuyển đổi số hiện nay.

Nguồn nhân lực chất lượng cao, theo TS Trần Thị Phương Nam, không chỉ dừng lại ở trình độ chuyên môn hay kỹ năng số, mà còn đòi hỏi tư duy sáng tạo, năng lực thích ứng nhanh trước những thay đổi công nghệ, qua đó đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.

Đảng và Nhà nước đã định hướng rõ phát triển nhân lực thông qua hai nghị quyết quan trọng trên cùng với các chiến lược giáo dục và quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo. Những định hướng đó nhằm hình thành hệ sinh thái đồng bộ, tạo điều kiện phát triển đội ngũ nhân lực trình độ cao, đủ năng lực cạnh tranh và góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước.

Với thế hệ trẻ am hiểu công nghệ, tốc độ tiếp cận số hóa nhanh cùng truyền thống coi trọng tri thức, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội trong đổi mới giáo dục. Bà Sasha Stubbs – Trưởng phòng Thiết kế học tập, Trường Đại học RMIT Việt Nam nhận định, dù mới ở những bước đầu trên hành trình đổi mới giáo dục, Việt Nam đã tạo được sức bật đáng kể.

Đến năm 2024, các nền tảng quản lý học tập (LMS) được triển khai rộng rãi tại nhiều trường đại học, trở thành một phần trong chiến lược chuyển đổi số quốc gia đối với giáo dục đại học. “Việt Nam là ‘tân binh’ trong đổi mới giáo dục, song sở hữu tiềm năng lớn trong thiết kế các mô hình, hoạt động học tập kết hợp và trực tuyến vẫn chưa được khai thác đầy đủ”, bà Sasha Stubbs nhận xét.

Bên cạnh cơ hội, bà Sasha Stubbs cũng chỉ ra những thách thức còn tồn tại, như hạ tầng số chưa đồng đều và mô hình giáo dục truyền thống lấy giáo viên làm trung tâm. “Hệ thống giáo dục đặt trọng tâm vào người dạy thường tạo ra tâm thế e dè trước các phương pháp mới. Tuy nhiên, xu hướng này đang dần thay đổi khi ngày càng nhiều giáo viên trẻ tham gia vào ngành”, bà cho biết.

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam chuyển dịch mạnh sang sản xuất công nghệ cao, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, theo bà Sasha Stubbs, việc học cũng cần được tái định hình. “Quan niệm chỉ cần một tấm bằng để bảo đảm việc làm cả đời đã lỗi thời. Học tập suốt đời sẽ trở thành yêu cầu tất yếu và bình thường của mỗi người”, bà Sasha Stubbs nhấn mạnh.

Nghị quyết 71 nêu rõ tầm nhìn về giáo dục với những chính sách đột phá, gắn kết giáo dục với khát vọng hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu sâu rộng của đất nước. Để đạt được khát vọng đó, bà Tara O’Connell - Trưởng Chương trình Giáo dục của UNICEF tại Việt Nam - nhấn mạnh, trước hết hệ thống giáo dục cần trang bị cho người học kiến thức số bao gồm cách tự bảo vệ mình trực tuyến và khả năng khai thác công nghệ không chỉ để có kiến thức mà còn để phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề, sáng tạo và đổi mới. Bên cạnh đó là kỹ năng xanh đối với một nền kinh tế xanh khi Việt Nam định hướng tăng trưởng bền vững.

Các chương trình giảng dạy phải trao quyền cho trẻ em để họ trở thành các tác nhân của sự thay đổi, đào tạo kỹ năng về hợp tác, khả năng thích ứng, kỹ năng giao tiếp. Đó là những kỹ năng mà các nhà tuyển dụng đang tìm kiếm và năng lực cho phép người trẻ vượt qua sự không chắc chắn để thành công trong bất kỳ lĩnh vực nào. Những kỹ năng này sẽ đảm bảo giáo dục chuyển thành việc làm và sinh kế có ý nghĩa.

Cần tư duy kiến tạo

TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến – nguyên Trợ lý Bộ trưởng Bộ GD&ĐT cho rằng, việc triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW và Nghị quyết 57-NQ/TW đòi hỏi ngành Giáo dục phải chuyển mạnh tư duy lãnh đạo, quản lý, từ cách tiếp cận hành chính sang mô hình kiến tạo và quản trị hiện đại. Theo ông, giáo dục không thể chỉ dừng ở việc “chỉnh sửa” những hạn chế trước mắt, mà cần tư duy kiến tạo để chủ động biến thách thức thành lợi thế trong giai đoạn phát triển mới.

Phân tích về quản trị linh hoạt, TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến nhấn mạnh, đây là mô hình giúp tổ chức thích ứng nhanh với thay đổi, nâng cao chất lượng, thúc đẩy sáng tạo và tăng cường tính minh bạch. Khi vận dụng vào giáo dục, quản trị linh hoạt cho phép phân quyền hợp lý, mở rộng sự tham gia của giáo viên, học sinh và khai thác hiệu quả công nghệ số, qua đó khắc phục những hạn chế của mô hình quản trị truyền thống vốn nặng tính tập trung, cứng nhắc.

Từ thực tiễn đó, nguyên Trợ lý Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đề xuất áp dụng quản trị linh hoạt trong đổi mới chương trình giáo dục, coi chương trình là một quá trình cải tiến liên tục, không phải sản phẩm cố định. Việc phát triển chương trình giáo dục sau năm 2026 cần theo hướng mở hơn, trao nhiều quyền chủ động cho nhà trường, đồng thời khuyến khích đổi mới phương pháp dạy học.

Tuy nhiên, TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến cũng lưu ý, để quản trị linh hoạt thực sự trở thành động lực đổi mới, ngành giáo dục cần chuẩn bị đầy đủ về năng lực đội ngũ và hạ tầng số, bảo đảm điều kiện triển khai đồng bộ, hiệu quả.

Theo bà Trịnh Hoài Thu – Trung tâm Nghiên cứu Trẻ em và Phát triển con người, giáo dục công dân toàn cầu được UNESCO xác định là một trong những định hướng trọng tâm của Chương trình Giáo dục 2030, nhằm hình thành những công dân có trách nhiệm, tôn trọng sự đa dạng và chủ động hành động vì phát triển bền vững. Ở Việt Nam, nội dung này được xác định là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển con người toàn diện, thể hiện rõ trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Bà Trịnh Hoài Thu cho rằng, việc tích hợp giáo dục công dân toàn cầu với giáo dục hướng nghiệp là xu hướng tất yếu, góp phần hình thành nguồn nhân lực vừa có năng lực nghề nghiệp, vừa có tư duy toàn cầu và ý thức trách nhiệm xã hội. Cách tiếp cận này giúp người học sớm định hình giá trị, thái độ và kỹ năng cần thiết để thích ứng với bối cảnh hội nhập quốc tế và thị trường lao động đang thay đổi nhanh chóng.

Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu sâu về khung đánh giá và đo lường năng lực giáo dục công dân toàn cầu gắn với giáo dục hướng nghiệp; đồng thời, thử nghiệm các mô hình tích hợp ở những cấp học khác nhau và đánh giá tác động thực chất đối với năng lực công dân và năng lực nghề nghiệp của học sinh.

“Việc hoàn thiện chính sách theo hướng này không chỉ góp phần thực hiện mục tiêu của Nghị quyết số 29-NQ/TW của Trung ương Đảng, mà còn giúp giáo dục Việt Nam tiệm cận với Chương trình giáo dục 2030 và các mục tiêu phát triển bền vững, hướng tới nền giáo dục nhân văn, sáng tạo và hội nhập” - bà Trịnh Hoài Thu nhìn nhận.

Theo bà Tara O’Connell, ngành Giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sáng tạo, khả năng kỹ thuật số và các giá trị bền vững. Chúng ta có thể chuẩn bị cho một thế hệ sẵn sàng dẫn dắt Việt Nam hướng đến một tương lai kỹ thuật số xanh hơn và thịnh vượng hơn.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ

TIN BUỒN

TIN BUỒN

GD&TĐ - Cụ bà Đào Thị Hồng Loan, thân mẫu của bà Lê Kim Phượng, Biên tập viên Ban Kinh tế Xã hội, Báo GD&TĐ đã từ trần ngày 17/2/2026.

Du khách dễ dàng chụp được hình cá voi xám. Ảnh: Bajaecotours.com - Visittheoregoncoast.com - Scitechdaily.com

Ngắm cá voi đón năm mới

GD&TĐ - Cá voi xám thuộc tiểu bộ cá voi tấm sừng hàm, con trưởng thành có thể đạt độ dài 16,5m và trọng lượng 50 tấn.

Mỹ đang tăng cường lực lượng quân sự quy mô lớn đến Trung Đông.

Một cuộc tấn công lớn sắp diễn ra?

GD&TĐ - An ninh toàn cầu đang đứng trước bờ vực sụp đổ thảm khốc do Mỹ được nhận định sẽ phát động hành động quân sự chống lại Iran trong những giờ tới.

Cô, trò Trường THCS Giảng Võ ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới sáng tạo qua từng bài học.

Lớp học số Google - mở cánh cửa tri thức

GD&TĐ - Tại Hà Nội, có một ngôi trường đã trở thành “điểm sáng” trong xây dựng, triển khai nhiều hình thức học tập mới hiệu quả, lấy học sinh làm trung tâm, công nghệ làm công cụ hỗ trợ.