Góc nhìn từ người dạy, người học
Em Huỳnh Thị Thanh Thảo - học sinh Trường THPT Hương Vinh, một trong những học sinh đạt giải cấp tỉnh chia sẻ, giới hạn viết bài văn khoảng 600 chữ khiến em bị tâm lý “không dám viết” và phải phân vân lựa chọn nên viết ý nào, bỏ ý nào; cùng áp lực về thời gian làm tư duy không được logic, liền mạch trong lập luận. Đây cũng là trăn trở chung của nhiều học sinh ở mức khá giỏi, khi vì áp lực số chữ trong bài văn nên phải cân, đo, đong, đếm, nên bài văn thiếu độ mượt.
Tuy nhiên, trái ngược với ý kiến trên, em Lê Tấn Phát - học sinh Trường THPT chuyên Quốc Học (TP Huế), từng đạt giải Ba quốc gia môn Địa lí lại cho rằng, nếu không có giới hạn tối đa sẽ tạo ra độ lệch khá lớn giữa các học sinh khi làm bài; học sinh giỏi sẽ phóng tay “khoe chữ” mà xa rời vấn đề cần nghị luận. Việc viết bài có giới hạn sẽ thể hiện được năng lực tư duy chắt lọc, gọt giũa ngôn ngữ. Nếu thay đổi cũng cần có một khoảng thời gian vì các bạn đã quen với tư duy, cách làm bài có giới hạn về số chữ.
Với cô Trần Thị Ngân - Tổ trưởng chuyên môn Ngữ văn, Trường THPT Hương Vinh (TP Huế), việc có nên duy trì quy định số chữ trong bài thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn không còn là vấn đề kỹ thuật mà phản ánh tư duy đánh giá: Chúng ta muốn đo khả năng tuân thủ khuôn mẫu hay năng lực tư duy và biểu đạt thực chất của học sinh? Với kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy, theo cô Trần Thị Ngân, việc nên bỏ giới hạn này cần được nhìn nhận trong tính đa chiều để tránh hệ lụy ngoài mong muốn.
Làm rõ quan điểm của mình, cô Trần Thị Ngân nhìn nhận, quy định số chữ giúp bảo đảm tính công bằng tương đối khi chấm thi, tránh tình trạng bài viết quá dài gây áp lực cho giám khảo, đồng thời rèn học sinh khả năng viết cô đọng - một kỹ năng không kém phần quan trọng.
Tuy nhiên, khi giáo dục chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, chính giới hạn này lại trở thành “trần kính vô hình” kìm hãm sự phát triển tư duy. Học sinh không còn viết để khám phá và trình bày suy nghĩ, mà viết để “vừa đủ”, thậm chí cắt bỏ những ý tưởng có giá trị chỉ vì lo ngại vượt quá số chữ.
“Khi viết bài văn, chỉ nên giữ mức tối thiểu khoảng 600 chữ, không giới hạn tối đa. Điều này sẽ mở ra không gian biểu đạt rộng hơn. Những học sinh có năng lực tư duy sâu, có nhu cầu triển khai lập luận đa tầng, dẫn chứng phong phú sẽ không còn bị ép vào một dung lượng cố định.
Điều này đặc biệt quan trọng trong các dạng đề mở, nơi bài viết không chỉ cần đúng mà còn cần hay, cần thể hiện dấu ấn cá nhân. Văn chương, suy cho cùng, không phải là trò chơi của sự “đếm chữ” mà là hành trình của cảm xúc và lý trí hòa quyện”, cô Trần Thị Ngân cho hay.
Bên cạnh đó, cô Trần Thị Ngân cũng chỉ ra những thách thức khi bỏ giới hạn số chữ tối đa. Thứ nhất là nguy cơ gia tăng sự chênh lệch giữa các nhóm học sinh. Những em có điều kiện học tập tốt, được rèn luyện kỹ năng viết bài bản sẽ tận dụng cơ hội này để thể hiện vượt trội. Trong khi học sinh trung bình hoặc yếu có thể rơi vào trạng thái lúng túng, không biết viết bao nhiêu là đủ.
Thứ hai, áp lực chấm thi sẽ tăng lên đáng kể nếu xuất hiện nhiều bài viết quá dài nhưng chưa chắc đã chất lượng. Khi đó, nếu không có tiêu chí đánh giá rõ ràng, giám khảo dễ bị “hiệu ứng độ dài” chi phối, vô tình ưu ái những bài dài hơn.
Nêu quan điểm, cô Nguyễn Thị Thanh Nguyên - giáo viên Ngữ văn, Trường THPT Minh Đài (Phú Thọ) cho rằng, nếu duy trì yêu cầu bài viết khoảng 600 chữ, học sinh khá, giỏi thường phải kìm nén cảm xúc, hạn chế triển khai ý vì lo vượt quá dung lượng.
Trong khi đó, học sinh trung bình lại cố gắng kéo dài bài viết cho đủ số chữ, dẫn đến tình trạng câu chữ gượng ép, thiếu giá trị nội dung. Khi không bị ràng buộc bởi số chữ, học sinh có thể tập trung phân tích sâu vấn đề, mở rộng góc nhìn, phát triển quan điểm cá nhân và nâng cao chất lượng lập luận mà không bị gò bó.
Trong thực tế, khi không bị giới hạn số chữ, những học sinh có tư duy tốt và khả năng lập luận vững vàng sẽ có điều kiện tạo ra các bài viết giàu cảm xúc, có chiều sâu và liên hệ thực tiễn tự nhiên, chiếm đa số. Ngược lại, một số học sinh còn hạn chế kỹ năng có thể rơi vào tình trạng viết lan man, thiếu định hướng và không làm chủ được nội dung bài viết.
Có góc nhìn khác, cô Đặng Thanh Hà - giáo viên Ngữ văn, Trường THPT Hoàng Công Chất (Điện Biên) khẳng định không nên bỏ quy định số chữ trong bài thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn. Lý do, quy định số chữ (200 đối với đoạn văn, 600 với bài văn) là phù hợp với thời gian thi 120 phút. Khi quy định số chữ, học sinh sẽ phân bổ thời gian hợp lý cho các phần đọc hiểu, viết đoạn văn và viết bài văn nghị luận bảo đảm hoàn thành tất cả các phần trong đề thi.
Đồng thời, việc bỏ giới hạn số chữ buộc giáo viên phải chuyển trọng tâm từ “dạy viết đủ” sang “dạy viết đúng, viết hay, viết thuyết phục”. Bên cạnh đó, do đặc trưng vùng miền, nhiều học sinh dân tộc hạn chế về việc dùng ngôn ngữ, nên quy định dung lượng như vậy là phù hợp, không quá nặng với học sinh. Thêm nữa, giới hạn số chữ buộc giáo viên phải thay đổi cách dạy, học sinh phải thay đổi cách học: Giáo viên chú trọng dạy kỹ năng, học sinh phải rèn luyện tư duy tổng hợp và súc tích. Điều này phù hợp với yêu cầu của Chương trình GDPT 2018.
Cốt lõi nằm ở cách thiết kế hệ thống đánh giá
Đánh giá về khả năng học sinh thể hiện tư duy, cảm xúc và lập luận khi không bị ràng buộc số chữ, cô Đặng Thanh Hà cho rằng, việc bỏ giới hạn dung lượng giúp học sinh tự do tư duy, sáng tạo và bộc lộ cảm xúc tự nhiên hơn. Tuy nhiên, không phải em nào cũng có khả năng viết đúng trọng tâm, triển khai vấn đề sâu sắc hay có vốn từ phong phú nhờ thói quen đọc và nghiên cứu. Vì vậy, việc có nên bỏ quy định số chữ trong bài thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn cần được xem xét một cách toàn diện.
Về tác động của việc bỏ giới hạn số chữ, cô Trần Thị Ngân nhận định không chỉ dừng lại ở phòng thi mà sẽ lan tỏa mạnh mẽ đến cách dạy học Ngữ văn ở THPT. Khi không còn “chuẩn số chữ” làm thước đo, giáo viên buộc phải thay đổi trọng tâm: Từ dạy học sinh viết “đúng form” sang dạy cách tư duy, cách lập luận, cách phát triển ý tưởng một cách logic và thuyết phục.
Những giờ học sẽ cần nhiều hơn các hoạt động tranh luận, phản biện, viết sáng tạo - nơi học sinh được thử nghiệm và sai, thay vì chỉ học cách đạt điểm cao trong một cấu trúc cố định. Đây là một chuyển dịch tích cực, nhưng cũng đòi hỏi năng lực sư phạm cao hơn từ giáo viên.
Ở góc độ học sinh, việc không bị ràng buộc bởi số chữ có thể tạo ra hai xu hướng trái ngược. Một mặt, nó giải phóng người viết, các em có thể đào sâu vấn đề, kết nối kiến thức, bộc lộ cảm xúc cá nhân một cách chân thực hơn. Những bài viết vì thế có khả năng trở nên sinh động, đa thanh, phản ánh cá tính rõ nét.
Mặt khác, nếu thiếu kỹ năng kiểm soát, bài viết dễ rơi vào tình trạng lan man, dài dòng, “nhiều mà không sâu”. Khi đó, tự do không còn là điều kiện để sáng tạo, mà lại trở thành nguyên nhân của sự mất phương hướng.
“Do đó, cốt lõi của vấn đề không nằm ở việc “có hay không có giới hạn số chữ”, mà ở cách thiết kế hệ thống đánh giá đi kèm. Nếu bỏ giới hạn tối đa, cần đồng thời xây dựng tiêu chí chấm thi nhấn mạnh vào chất lượng lập luận, độ sâu phân tích, tính mạch lạc và sáng tạo, thay vì độ dài văn bản. Bên cạnh đó, học sinh cũng cần được trang bị kỹ năng viết hiệu quả, biết khi nào cần mở rộng, khi nào cần dừng lại, và quan trọng nhất là viết có mục đích”, cô Trần Thị Ngân nhìn nhận.
Cùng quan điểm về yêu cầu điều chỉnh cách dạy học, cô Nguyễn Thị Thanh Nguyên nhấn mạnh việc không đặt nặng yêu cầu “viết đủ” mà chú trọng rèn luyện tư duy, lập luận và khả năng đào sâu vấn đề; hướng dẫn học sinh loại bỏ câu văn rỗng, ý trùng lặp; đồng thời rèn kỹ năng phân bổ thời gian làm bài hợp lý. Bên cạnh đó, cách chấm và chữa bài cũng cần thay đổi.
“Nếu bỏ quy định số chữ tối đa trong bài thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn sẽ mở ra cơ hội cho sự tự do và sáng tạo, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với cả người dạy lẫn người học. Chỉ khi đi kèm với những thay đổi đồng bộ trong dạy học và đánh giá, thay đổi này mới thực sự phát huy ý nghĩa, góp phần hình thành những người viết không chỉ đúng, mà còn có chiều sâu và bản sắc”, cô Trần Thị Ngân chia sẻ.