Vị danh sĩ được vua Lê ví như Thái Sơn Bắc Đẩu

0:00 / 0:00
0:00
GD&TĐ - Ba lần thi đỗ đầu, bằng trí tuệ và bản lĩnh của một danh sĩ thực học – Hồ Sĩ Dương đã khiến cả phương Bắc lẫn lân bang phải nể sợ.
Họ Hồ làng Quỳnh Đôi từ đời Hồ Sĩ Dương bắt đầu xuất hiện nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng.
Họ Hồ làng Quỳnh Đôi từ đời Hồ Sĩ Dương bắt đầu xuất hiện nhiều nhà khoa bảng nổi tiếng.

Có thể mượn bốn chữ “Thái Sơn Bắc Đẩu” trên bức đại tự treo chính giữa điện thờ Hồ Sĩ Dương tại làng Quỳnh - do vua Lê ban tặng, để khái quát về một chân tài thực học – học mà thành tài.

Ba lần đậu Giải nguyên

Hồ Sĩ Dương sinh năm 1621, quê ở làng Hoàn Hậu, nay là xã Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu - Nghệ An). Cha ông là giám sinh Hồ Hoàng, ông cũng là hậu duệ đời xa của học sĩ Hồ Tông Thốc - danh sĩ thời Trần.

Hồ Sĩ Dương vốn tên là Á Ngọc, nổi tiếng thông minh khi 7 tuổi đã thông thạo chữ nghĩa, học hết chữ của thầy đồ trong vùng. Bởi vậy, 15 tuổi người cha là Hồ Hoàng đưa con đến làng Yên Lạc, tổng Quán Triều, huyện Đông Thành (nay thuộc huyện Yên Thành) để theo học thầy Mạc Phúc Thanh từ Bắc vào.

Năm 18 tuổi, Hồ Sĩ Dương lấy tên là Khả Trí dự khảo hạch ở huyện đỗ đầu, năm 23 tuổi (1645) đỗ Giải nguyên trường Nghệ An. Vào kỳ thi Hội, ông thi trúng tam trường. Thế nhưng thời điểm này, người cha đột ngột qua đời nên Hồ Sĩ Dương đành bỏ dở kỳ thi để về chịu tang cha.

Ba năm sau, ông đăng ký tên giả là Trần Độ đi thi Hương, nhưng cũng có nguồn nói rằng ông đi thi hộ người khác. Lần thi này ông lại đỗ Giải nguyên. Việc lấy tên giả bị phát hiện, Hồ Sĩ Dương bị mất danh hiệu Giải nguyên cả hai lần thi và bị bắt đi lính.

Năm 1651 ông được ân xá, về quê dự thi Hương ở trường Nghệ An và đỗ Giải nguyên. Đó là lần thứ 3 liên tiếp ông đoạt danh hiệu này qua các năm thi 1645, 1648, 1651. Năm sau ông vượt qua kỳ thi Hội, bước vào thi Đình đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, được bổ nhiệm làm Lại khoa cấp sự trung.

Năm 1659, Triều đình tổ chức khoa thi đặc biệt nhằm tuyển chọn người tài vào Đông các viện. Kỳ thi nhằm lấy 5 người, 2 người là đông các, 3 người là hiệu thư. Dự thi là những người đã đậu các kỳ thi Đình. Hồ Sĩ Dương chỉ đậu thứ 2 tiến sĩ, không được nằm trong danh sách dự thi. Bởi vậy, ông khiếu nại trường hợp của mình: Ba lần đỗ đầu và kỳ thi tiến sĩ đáng lý bài ông vào hạng nhất. Vì thế, vua Lê Thần Tông đồng ý cho ông dự thi.

Ông cùng Hoàng giáp Nguyễn Văn Giai, người Phù Lưu Trường (nay là xã Hậu Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) đậu đông các. Ân điển vua ban cho những người đỗ khoa này giống như ân điển ban cho các vị Tam khôi, do đó, học vị Hồ Sĩ Dương có sách ghi là Bảng nhãn.

Vị danh sĩ được vua Lê ví như Thái Sơn Bắc Đẩu ảnh 1

Đền thờ Hồ Sĩ Dương tại Quỳnh Đôi (Nghệ An).

Giai thoại “đũa mốc chòi mâm son”

Là một danh sĩ nổi tiếng đương thời nên những giai thoại về Hồ Sĩ Dương được truyền tụng khá thú vị, trong đó có chuyện ông lấy vợ.

Kể từ khi người cha qua đời, Hồ Sĩ Dương phải thay cha gánh vác việc trong nhà. Mặc dù gia cảnh bần hàn nhưng ông nổi tiếng là người phóng khoáng, được nhiều người quý mến và chuyện tình của ông cũng nhờ tính cách ấy mà thành.

Chuyện kể rằng, một hôm con gái quan Quận công Trương Đắc Phủ, làng Phú Nghĩa (tên Nôm là làng Hàu) là tiểu thư Trương Thị Thành, một cô gái xinh đẹp, nết na đi chơi qua làng Nồi. Bấy giờ, Hồ Sĩ Dương cùng bạn bè đang trò chuyện, thấy con gái quan, họ thách ông xin được trầu của cô gái. Ông mạnh dạn đến xin.

Thấy chàng trai lam lũ nhưng mặt mũi sáng, lại ngạc nhiên về sự bạo dạn nên cô gái tặng luôn cả hộp trầu. Hành động đó khiến Hồ Sĩ Dương đem lòng yêu mến.

Về đến nhà, chàng trai nằng nặc đòi mẹ mang trầu cau sang làng Phú Nghĩa để xin hỏi cưới Trương tiểu thư. Người mẹ hết lòng khuyên nhủ con chớ “đũa mốc mà chòi mâm son”. Song dù mẹ có nói thế nào, khuyên nhủ ra sao, ông vẫn một mực giữ ý định nên bà Hoàng Thị Tâm đánh liều tới dinh quan.

Nghe kể đầu đuôi câu chuyện, Trương Quận công nổi giận, cho chuyện con gái tặng trầu con trai là làm tổn hại đến gia môn, ông đuổi luôn con gái về làng Nồi và giao ước khi nào Hồ Sĩ Dương đỗ đạt làm quan, trải chiếu hoa từ làng Nồi sang làng Phú Nghĩa thì lúc đó ông mới nhận làm con rể.

Bà phu nhân Trương Quận công thương con nhưng sợ chồng, không biết làm thế nào đành vào nhà xúc mấy bơ muối cho con gái mang theo, nhưng kỳ thực trong đó bà đã lén bỏ mấy lạng vàng. Tiểu thư đang sống cảnh giàu sang, nay bị đuổi ra khỏi nhà, sống cuộc sống lam lũ, nghèo khó nhưng không hề than phiền, trách móc.

Ngược lại, cô hết lòng chăm lo cho mẹ chồng, động viên chồng cố công học tập. Biết vợ chịu thiệt thòi, Hồ Sĩ Dương rất trân trọng, thương yêu vợ, có lần ông cất câu hát vui: Bây giờ gánh nước mỏi vai/Mai sau đi hán đi hài mỏi chân.

Nhờ nỗ lực đèn sách, sau khi thi đỗ, ông làm quan trải nhiều chức vụ như Tham tụng, Thượng thư bộ Hình kiêm Đông các Đại học sĩ, Giám tu Quốc sử, tước Duệ Quận công.

Không biết sau khi đỗ ông có cho trải chiếu hoa từ làng mình sang làng Phú Nghĩa như lời thách đố trước kia của bố vợ hay không, nhưng công tích của ông thì người đương thời chẳng ai không biết.

Hiến kế giúp vua Khang Hy

Vị danh sĩ được vua Lê ví như Thái Sơn Bắc Đẩu ảnh 2

Năm 1673 Hồ Sĩ Dương đi sứ Trung Quốc và hiến kế giúp vua Khang Hy bình định nạn Tam phiên. Ảnh minh họa: IT.

Ban đầu, Hồ Sĩ Dương trải qua các chức võ quan kinh lược Tuyên Quang. Ông dẫn quân đi kinh lược, bình định được thủ lĩnh Mã Thúc Lan. Sau đó, ông được bổ chức Lại khoa đô cấp sư trung thăng Đông các Đại học sĩ…

Nhờ tài năng hiếm có nên Hồ Sĩ Dương nhiều lần được cử đón tiếp sứ thần phương Bắc, cử đi giao thiệp tranh cãi biên giới 5 lần đều thắng lợi.

Sử cũ còn ghi: “Tháng 12/1665 cho Hữu Thị lang bộ Binh Nhuận Duệ tử Hồ Sĩ Dương tước bá vì nhiều lần đi lên cửa quan đợi mệnh tiếp sứ thần được việc”, “Tháng 12 (nhuận) 1669 cho Hồ Sĩ Dương tước hầu… vì cớ làm hậu mệnh đón tiếp sứ thần có công” (Đại Việt sử ký bản kỷ thực lục).

Theo sách “Công dư tiệp ký” của Vũ Phương Đề, nhờ thầy học là Dương Tồn truyền binh pháp nên có lần đi sứ sang Trung Hoa, ông đã đem thao lược giúp nước này đánh tan được giặc, còn ở nước nhà trong dịp Nam chinh - ông đã từng lập chiến công khiến cho lân bang phải kinh sợ.

Đối chiếu với sử liệu, năm 1673 Hồ Sĩ Dương được cử đi sứ sang Trung Quốc. Lúc này, nhà Thanh có nạn Tam phiên, ông đã hiến kế cho vua Khang Hy thuyết phục được Thượng Chí Tín và Cảnh Thịnh Trung về hàng triều đình để tập trung lực lượng đánh thắng Ngô Tam Quế. Bởi vậy, ông được vua Khang Hy tặng danh hiệu “Hồ sinh Phật” (Phật sống họ Hồ).

Năm 1676, ông làm Tham tụng, kiêm Thượng thư bộ Công, cùng năm ông được sai Giám tu Quốc sử Thượng thư bộ Hình kiêm Đông các Đại học sĩ. Sau đó, ông được thăng Thượng thư bộ Lễ.

Ngoài lĩnh vực ngoại giao, quân sự, Hồ Sĩ Dương còn là một học giả uyên bác. Ông là tác giả các tác phẩm: Trùng san Lam Sơn thực lục, Hoan Châu phong thổ ký, Hồ Thượng thư gia lễ, Hồ tộc phổ ký, Đại Việt Lê triều đế vương Trung hưng công nghiệp thực lục, Hùng Vương sự tích ngọc phả cổ truyền, Thục An Dương Vương sự tích, Trưng Vương công thần phả lục, Thiên Nam ngữ lục, Trinh tiết phu tỉ muội bi ký, Khuông lộc hầu bi ký, Tam tòa đại vương miếu bi ký.

Không chỉ vậy, ông còn tham gia biên soạn bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” (quyển 11 đến quyển 15), hiệu đính bộ “Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên” và nhuận chính “Nam giao điện bi ký”.

Là quan lớn, nhưng Hồ Sĩ Dương rất chăm lo đời sống người dân. Tộc phả và văn bia tại đền thờ có ghi chép lại, ông tặng nhiều mẫu ruộng trong huyện. Người làng khi thọ 60, 70, 80 tuổi đều được ông tặng 1 đấu thóc và 3 quan tiền. Ông cũng chăm lo việc cải tạo đồng ruộng, sửa chữa chùa chiền.

Ông cũng dùng của cải, ruộng đất triều đình ban tặng để cho tặng người dân, lập nên 5 thôn mới: Như Bá (Quỳnh Bá), Tiên Đội (Quỳnh Hoa), Mỹ Hòa (Quỳnh Mỹ), Thọ Vực (Quỳnh Thọ), Bảo Yên (vùng Hoàng Mai).

Năm 1681, Hồ Sĩ Dương qua đời ở tuổi 61, được phong Thiếu bảo duệ Quận công. Tương truyền vua Lê đã tặng ông bức đại tự có 4 chữ “Thái Sơn Bắc Đẩu” – chỉ người có tài năng và danh tiếng cao như núi Thái Sơn và sáng như sao Bắc Đẩu. Bức đại tự hiện vẫn được treo chính giữa điện thờ Hồ Sĩ Dương tại làng Quỳnh.