Từ trang sách: Đạo lý dân tộc là thước đo tối hậu

GD&TĐ - Tập thơ 'Việt sử tam bách vịnh', được ví như 'Kinh Thi tam bách thủ', do danh sĩ yêu nước thời Nguyễn Nhữ Bá Sĩ sáng tác, vừa ra mắt độc giả.

'Việt sử tam bách vịnh' (bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông) được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026. Ảnh: NVCC.
'Việt sử tam bách vịnh' (bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông) được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026. Ảnh: NVCC.

Tập thơ “Việt sử tam bách vịnh” với 309 chân dung nhân vật lịch sử Việt Nam, được ví như “Kinh Thi tam bách thủ”, do danh sĩ yêu nước thời Nguyễn Nhữ Bá Sĩ sáng tác, vừa ra mắt độc giả.

Nỗ lực của ba thế hệ

Cuốn sách được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026, được ra đời từ nỗ lực của ba thế hệ trong một gia đình nhà giáo.

Đầu tiên là nỗ lực dịch thuật suốt nhiều năm của học giả Lê Văn Uông, sau đó là công sức chú giải, viết giới thiệu của thứ nam của cụ Uông là thầy giáo Lê Văn Đình (sinh năm 1942, nguyên giáo viên dạy Văn trường PTTH Chuyên Lam Sơn, Thanh Hoá), cuối cùng là sự kỳ công chỉnh sửa bản thảo của các con thầy Lê Văn Đình là tiến sĩ – kiến trúc sư – nhà văn Lê Thuý Hà cùng con rể là thầy giáo Phạm Gia Huân cho tới khi bản thảo hoàn tất.

Dịch giả tập thơ, cụ Lê Văn Uông quê ở Thanh Hóa, tốt nghiệp trường Sư phạm Quốc học Huế năm 1937. Trước Cách mạng tháng Tám, cụ dạy học ở Bình Định, Thanh Hoá. Từ năm 1947 - 1970, cụ là Thanh tra Tiểu học tỉnh Thanh Hoá, rồi làm giáo viên các trường Sư phạm ở Thanh Hoá. Từ năm 1972 - 1980, cụ được mời thỉnh giảng Khoa Hán Nôm, Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Cụ là một nhà nghiên cứu Hán Nôm uy tín, là tác giả bản dịch các tác phẩm nổi tiếng như bài “Lam Sơn lương thuỷ phú”, Văn bia Vĩnh Lăng, truyện “Tuỳ Đường diễn nghĩa”, đặc biệt là bộ sử “Lam Sơn thực lục”, ghi chép chân xác toàn bộ diễn biến của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Sau khi nhận những cuốn sách đầu tiên từ nhà xuất bản, thầy giáo Lê Văn Đình, con trai dịch giả Lê Văn Uông đem sách về quê hương tác giả Nhữ Bá Sĩ để trình và thắp hương trước bàn thờ nhà thờ danh nhân tiền bối, trong sự vui mừng của hậu duệ dòng họ Nhữ.

Đánh thức ý thức trách nhiệm

Nhữ Bá Sĩ (1788 - 1867), tự Nguyên Lập, hiệu Đạm Trai, quê ở làng Cát Xuyên, xã Hoằng Cát, huyện Hoằng Hoá, nay là xã Hoằng Sơn, tỉnh Thanh Hoá, là một nhà Nho sống trọn trong thế kỷ XIX, thời kỳ vừa ổn định về thể chế dưới triều Nguyễn, vừa tiềm ẩn nhiều rạn nứt về tư tưởng và xã hội.

Ông thi đỗ Hương cống năm Minh Mạng thứ 2 (1821), từng giữ nhiều chức vụ khác nhau: Tri huyện, Viên ngoại lang Bộ Hình, Hàn lâm viện Tu soạn, Đốc học Thanh Hóa… nhưng hoạn lộ không hề bằng phẳng.

Ông từng bị giáng chức, chịu án tù và bị sung đi hiệu lực (phục dịch trong phái đoàn ngoại thương của triều đình) ở Quảng Đông. Chính những trải nghiệm này đã định hình một kiểu trí thức không hoàn toàn “phụng sự quyền lực”, cũng không quay lưng với đời sống chính trị. Ông nhập thế, nhưng với một khoảng cách tỉnh táo; tham gia bộ máy, nhưng không đánh mất năng lực phản tỉnh.

Nhữ Bá Sĩ là một người nồng nàn yêu nước. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ông nhiều lần dâng sớ tình nguyện tham gia chống giặc. Ông còn sai người nhà võng mình vào tận Nghệ An mưu toan lập căn cứ chống Pháp với các văn thân tỉnh bạn. Việc chưa xong thì ông mất, hưởng thọ 80 tuổi. Theo gương ông, con cháu, học trò, nhiều người tham gia phong trào chống Pháp, hy sinh cho độc lập dân tộc.

Nhữ Bá Sĩ cũng là một trong những nhà Nho sống ở thế kỷ XIX có nhiều trước tác vào bậc nhất, số lượng tác phẩm nhiều, đến nay vẫn chưa thể thống kê đầy đủ. Riêng về đề tài văn học, sử học, thì hai tập “Phi điểu nguyên âm” và “Việt sử tam bách vịnh” được đời sau đánh giá là có nội dung và hình thức đứng đầu.

“Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử nước Việt) gồm 309 bài thơ, đề cập tới lịch sử nước ta từ thời Kinh Dương Vương đến hết thời Hậu Trần.

Nhiều ý kiến cho rằng số lượng bài thơ vịnh sử là ngầm so sánh với số bài của Kinh Thi là 311 bài, nên tập thơ còn được gọi là “Kinh Thi tam bách thủ”. Tất cả đều được viết theo thể thất ngôn bát cú một cách nghiêm túc của luật thơ Đường.

Mỗi bài trong bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông đều có đủ các phần: Nguyên âm chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ (có 5 bài do người khác dịch), chú giải. Do phong cách vịnh sử mượn nhiều điển cố, nên dịch giả đã nỗ lực chú giải hết sức chi tiết để độc giả ngày nay có thể hiểu được từng câu, từng ý.

Trong bộ “Từ điển văn học”, tập II, nhà nghiên cứu Hán Nôm Phạm Tú Châu khẳng định rằng qua “Việt sử tam bách vịnh”: “Tác giả ca ngợi, khẳng định thời đại Hùng Vương về nhiều mặt, và đề cao tất cả những anh hùng dân tộc có công với dân với nước, bất kể miền xuôi, miền ngược, trẻ già, trai gái, xuất thân tôn quý hay bần hàn”.

Trong số 309 chân dung nhân vật xuất hiện trong sách, bên cạnh những vị vua anh hùng như Ngô Vương Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ, Lê Thái Tổ, Trần Thánh Tông, các danh tướng như Dương Diên Nghệ, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo… còn có những bài vịnh về những nhân vật chỉ thấp thoáng trong chính sử như Huyền Trân Công chúa, sư Pháp Loa, Yết Kiêu, Hà Đặc, hay cả những viên tướng giặc như Thoát Hoan, Mộc Thạch, Trương Phụ, tạo dựng một bức tranh tổng thể về lịch sử nước nhà suốt mấy nghìn năm.

Các nhân vật được ông viết thơ vịnh, kể cả các nhân vật người Trung Quốc từng làm quan cai trị ở nước Việt, hay liên quan đến nước ta, ông vẫn ghi nhận tài năng, nhân cách nếu nhân vật đó xứng đáng. Đây là một lập trường mang tính nhân văn và học thuật cao.

Mặc dù vậy, Nhữ Bá Sĩ vẫn phê phán không khoan nhượng đối với những nhân vật mà ông cho là phản bội lợi ích dân tộc. Từ những kẻ cầu an, đầu hàng ngoại bang đến những quan lại tiếp tay cho chế độ đô hộ, tất cả đều bị đưa ra “xét xử” bằng ngôn từ thơ ca.

Thông qua những vần thơ, ông gián tiếp gửi gắm thông điệp cho hiện tại: Lịch sử không quên, và đạo lý dân tộc là thước đo tối hậu. Lối viết này khiến “Việt sử tam bách vịnh” mang dáng dấp của một “biên niên đạo đức”, nơi lịch sử được phê bình theo quan điểm Nho giáo và tinh thần dân tộc.

Điều này cũng cho thấy tác giả không viết lịch sử để an ủi hay ru ngủ, mà để đánh thức ý thức trách nhiệm của người đọc, đặc biệt là tầng lớp trí thức.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ