Gần bảy thập kỷ trôi qua, nhưng trong ký ức của người dân Xuân Quan, đại công trường thủy nông Bắc Hưng Hải vẫn hiện lên rõ nét với tiếng cuốc xẻng vang vọng, những đoàn người nối dài gánh đất và hình ảnh Bác Hồ nhiều lần về tận nơi động viên nhân dân.
Qua lời kể của những nhân chứng năm xưa, câu chuyện về đại công trình được dựng xây chủ yếu bằng sức người không chỉ tái hiện khí thế lao động sôi nổi của một thời kỳ lịch sử, mà còn khắc họa tinh thần đoàn kết, ý chí vượt khó của cả một thế hệ chung sức làm thay đổi diện mạo đồng ruộng miền Bắc.
Đại công trường “đông như hội”
Mới đây, Đảng ủy UBND tỉnh Hưng Yên đã có báo cáo gửi Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc xin chủ trương xây dựng Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với công trình Đại thủy nông Bắc Hưng Hải tại xã Việt Tiến. Đây là công trình được đánh giá có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục truyền thống yêu nước, lý tưởng cách mạng, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.
Theo đề xuất, khu đất dự kiến xây dựng tượng đài có diện tích khoảng 4,33ha. Vị trí khu đất khá thuận lợi, phía Đông giáp tuyến đường giao thông dự kiến và khu đô thị Tân Tiến; phía Tây giáp khu dân cư; phía Bắc giáp đường tỉnh 384; phía Nam giáp khu hành chính mới của xã Việt Tiến.
Công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải (hay còn gọi là đại thủy nông Bắc Hưng Hải) được khởi công ngày 1/10/1958, là hệ thống thủy lợi lớn nhất miền Bắc thời bấy giờ. Công trình gồm hệ thống kênh dài hơn 232km cùng các đập, cống, trạm bơm phục vụ tưới tiêu, thoát úng cho vùng tứ giác giới hạn bởi sông Hồng, sông Đuống, sông Thái Bình và sông Luộc, với diện tích gần 215 nghìn ha.
Chỉ sau 7 tháng thi công, đến ngày 1/5/1959, công trình Bắc Hưng Hải đã hoàn thành vượt mong đợi. Hàng vạn cán bộ, bộ đội và dân công tham gia đào đắp hơn 3 triệu mét khối đất, xây dựng hàng nghìn mét khối bê tông, hình thành hệ thống kênh mương trải dài qua địa bàn các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương (cũ).
Công trình bảo đảm nguồn nước tưới ổn định cho hàng chục nghìn ha lúa, hoa màu, đồng thời nâng cao năng lực tiêu úng cho gần 20 nghìn ha trong lưu vực.
Ở tuổi ngoài 80, ông Nguyễn Ngọc Liêm, sinh năm 1941, tên thường gọi là Nguyễn Ngọc Am, thôn 5 (Phụng Công, Hưng Yên) vẫn nhớ như in không khí những ngày xây dựng đại công trình thủy nông Bắc Hưng Hải. Mỗi lần nhắc lại, ông đều dùng cụm từ “đông như hội” để diễn tả khung cảnh lao động khẩn trương, sôi nổi trên đại công trường năm ấy.
Theo lời ông Liêm, vào cuối những năm 1950, cả vùng Xuân Quan ngày nào cũng rộn ràng tiếng người, tiếng loa truyền thanh, tiếng cuốc xẻng và tiếng gọi nhau í ới trên công trường. Từng đoàn dân công từ Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nội… đổ về tham gia đào sông, đắp đê, làm cống.
“Khắp nơi đều là người. Có đoạn đứng thành hàng dài chỉ để chuyền đất cho nhau. Ngày ấy làm gì có máy móc, tất cả đều dùng cuốc, xẻng, quang gánh, sọt tre”, ông Liêm kể.
Khi công trình Bắc Hưng Hải khởi công cuối năm 1958, ông Liêm vừa tròn 17 tuổi. Do không đủ điều kiện sức khỏe để nhập ngũ, ông ở lại địa phương tham gia dân quân, chủ yếu phối hợp giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ vòng ngoài mỗi khi có lãnh đạo về thăm công trường. “Anh em khỏe mạnh đi bộ đội gần hết. Tôi ở nhà làm dân quân, phụ trách lực lượng của hai thôn”, ông Liêm nói.
Trong ký ức của ông, đại công trường Bắc Hưng Hải giống như một chiến dịch lớn. Ban ngày người dân đào đắp ngoài công trường, ban đêm đèn đuốc vẫn sáng rực để thi công liên tục. “Đêm sáng như ban ngày vì công trường làm không nghỉ”, ông nhớ lại.
Không riêng ông Liêm, bà Nguyễn Thị Mọc, sinh năm 1930, thôn 4 (Phụng Công, Hưng Yên), dù đã ngoài 90 tuổi, vẫn nhớ rõ những ngày tuổi trẻ trực tiếp tham gia xây dựng đại công trình thủy nông Bắc Hưng Hải. Bà kể, thời điểm ấy, bà cùng hàng nghìn người khác thay phiên nhau đi dân công theo từng đợt kéo dài nửa tháng. Công việc hoàn toàn thủ công, đất được xúc vào sọt rồi gánh đi đắp bờ. Ngày ấy khổ lắm. Đi dân công hết đợt này đến đợt khác. Làm gần như suốt ngày đêm nhưng ai cũng hồ hởi.
Điều khiến bà nhớ nhất không chỉ là sự vất vả mà còn là niềm tin của người dân vào công trình. Với những người nông dân quanh năm gắn bó với đồng ruộng, nước tưới khi ấy là niềm mong mỏi lớn nhất. “Ngày xưa đồng ruộng thiếu nước, hạn hán nhiều lắm. Ai cũng nghĩ phải cố làm cho xong để sau này có nước cấy lúa”, bà Mọc nói.
Vẹn nguyên ký ức những lần Bác về thăm công trường
Trong ký ức của các nhân chứng năm xưa, dấu ấn sâu đậm nhất chính là những lần Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp về thăm công trường thủy lợi Bắc Hưng Hải.
Với bà Nguyễn Thị Mọc, dù tuổi đã cao và nhiều chi tiết phai mờ theo năm tháng, hình ảnh Bác Hồ giữa biển người trên công trường vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức. Bà nhớ khi ấy mình trực tiếp gánh đất cùng dân công trên công trường. Công việc tuy nặng nhọc nhưng mỗi khi nghe tin Bác về thăm, ai nấy đều phấn khởi.
“Có chứ, tôi có nhìn thấy Bác. Hồi ấy đông người lắm. Bác xuống tận nơi động viên bà con làm thủy lợi”, bà Mọc xúc động kể.
Ông Nguyễn Ngọc Liêm cũng không quên lần Bác Hồ về thăm cống Xuân Quan. Tuy nhiên, do dòng người quá đông nên ông không thể lại gần. “Người đông không chen nổi. Chúng tôi chỉ biết Bác về thôi chứ không thể tiếp cận gần được”, ông Liêm nhớ lại và cho biết thêm, hôm ấy ngoài dân quân du kích còn có công an và nhiều lực lượng khác tham gia bảo vệ khu vực công trường. Bác chỉ đi tham quan, động viên bà con một lúc thôi nhưng ai cũng phấn khởi lắm.
Trong khi đó, ông Lê Ngọc Kỉnh, sinh năm 1944, thôn 3 (Phụng Công, Hưng Yên) vẫn nhớ như in lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm khu vực chuẩn bị thi công cống Xuân Quan vào ngày 20/9/1958.
Ông kể, khi ấy ông mới 14 tuổi, vừa đi học vừa chăn trâu ngoài cánh đồng Bát Tràng. Đúng hôm Bác Hồ về thăm, ông đang chăn trâu gần khu cửa sông. Nghe tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm”, ông lập tức chạy theo dòng người để được nhìn thấy Bác.
“Tôi thấy bộ đội đứng kín cả một vùng. Người đông lắm, toàn cán bộ, chiến sĩ tham gia đào sông”, ông nhớ lại.
Theo ông Kỉnh, những lần Bác Hồ về thăm Bắc Hưng Hải không chỉ để kiểm tra công trình mà còn là nguồn động viên tinh thần rất lớn đối với nhân dân. Ông đặc biệt nhớ việc Bác nhiều lần nhấn mạnh ý nghĩa của thủy lợi đối với sản xuất nông nghiệp.
Ông Kỉnh cho biết, trước đó, trong lần về thăm Hưng Yên năm 1954, Bác từng hỏi lãnh đạo địa phương: “Ta đã có đất rồi, còn thiếu gì?”. Khi được trả lời là “thiếu nước”, Bác căn dặn phải làm thủy lợi đưa nước về đồng ruộng.
“Bác nhìn rất xa. Có nước thì đồng ruộng mới sản xuất được”, ông Kỉnh nói và điều khiến ông xúc động nhất là hình ảnh Bác hòa mình vào công trường như một người lao động thực thụ. “Tôi nhớ mãi hình ảnh Bác cầm xe cút kít chở bê tông ở cống Xuân Quan. Hình ảnh ấy rất đẹp. Đó là ký ức cả đời tôi không quên”, ông xúc động kể.
Công trình đổi thay cả một vùng đồng bằng rộng lớn
Điều đọng lại sâu sắc nhất trong ký ức của người dân Hưng Yên nói chung và khu vực cống Xuân Quan nói riêng không chỉ là khí thế lao động sôi nổi hay những lần Bác Hồ về thăm công trường, mà còn là sự đổi thay của đồng ruộng sau khi công trình Bắc Hưng Hải hoàn thành.
Bà Nguyễn Thị Mọc nhớ rõ những năm trước khi có Bắc Hưng Hải, nhiều cánh đồng thường xuyên khô hạn, sản xuất bấp bênh. Khi hệ thống thủy lợi hoàn thành, nước sông Hồng được dẫn về tận ruộng đồng, giúp việc canh tác thuận lợi hơn rất nhiều. “Ngày xưa thiếu nước khổ lắm. Có năm cấy xong vẫn lo mất mùa. Có nước rồi đồng ruộng xanh tốt hẳn lên. Người dân đỡ khổ hơn trước nhiều”, bà Mọc kể.
Ông Lê Ngọc Kỉnh cũng cho rằng ý nghĩa lớn nhất của Bắc Hưng Hải là giải quyết bài toán thiếu nước cho nông nghiệp. Theo ông, nhiều cánh đồng khô hạn quanh năm trước đây đã trở thành vùng sản xuất màu mỡ sau khi hệ thống thủy lợi đi vào hoạt động. “Từ khi có Bắc Hưng Hải, đồng ruộng mới đủ nước, dân mới có thêm lúa gạo”, ông Kỉnh khẳng định.
Không chỉ làm thay đổi sản xuất nông nghiệp, Bắc Hưng Hải còn trở thành ký ức tập thể đặc biệt của nhiều thế hệ người dân Xuân Quan, Hưng Yên và các vùng lân cận thuộc Bắc Ninh, Hải Dương (cũ).
Ông Nguyễn Ngọc Liêm kể rằng khi công trình hoàn thành, cả vùng quê như mở hội. “Mừng lắm chứ. Có cả văn công về biểu diễn, bà con kéo đi xem đông nghịt”, ông nhớ lại.
Sau này, bộ phim tài liệu Nước về Bắc Hưng Hải cũng được quay tại khu vực cống Xuân Quan. Theo ông Liêm, nhiều cảnh quay được thực hiện ngay tại khu vực mở cống, tái hiện không khí lao động sôi nổi của thời kỳ xây dựng Bắc Hưng Hải.
Với ông Liêm, ngày công trình hoàn thành là niềm vui rất lớn của người dân địa phương. Theo các nhân chứng, điều đặc biệt nhất của công trình không chỉ nằm ở quy mô hay khối lượng đào đắp khổng lồ, mà còn ở tinh thần đoàn kết của cả một thế hệ. Hàng vạn con người từ nhiều tỉnh thành, từ bộ đội, dân công đến học sinh, thanh niên… đã cùng chung sức trên công trường với mong muốn đưa nước về đồng ruộng.
“Bây giờ các cháu khó tưởng tượng được ngày ấy. Tất cả đều làm thủ công, cực lắm nhưng ai cũng quyết tâm làm cho bằng được”, ông Liêm nói.
Còn với ông Lê Ngọc Kỉnh, Bắc Hưng Hải không chỉ là một công trình thủy lợi mà còn là biểu tượng của ý chí và tầm nhìn chiến lược trong phát triển nông nghiệp miền Bắc. “Sức người ngày ấy lớn lắm. Không có máy móc mà vẫn làm nên cả một đại công trình”, ông xúc động.
Ở tuổi xế chiều, những nhân chứng năm xưa vẫn minh mẫn kể lại từng câu chuyện về đại công trường Bắc Hưng Hải với niềm tự hào khó giấu. Với họ, đó không chỉ là ký ức tuổi trẻ mà còn là minh chứng cho một thời kỳ lao động gian khó nhưng hào hùng của quê hương, đất nước.
Theo tư liệu lịch sử, trong quá trình xây dựng công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bốn lần trực tiếp về thăm công trường.
Lần thứ nhất, ngày 20/9/1958, Bác về kiểm tra công tác chuẩn bị khởi công xây dựng công trình. Tại đây, Người nhấn mạnh: “Công trình Bắc Hưng Hải thành công thì mỗi năm đồng bào đỡ mấy triệu công chống hạn, thu hoạch lại tăng lên”.
Lần thứ hai, ngày 16/10/1958, Bác đến thăm bộ phận dân công đang đào sông Đình Dù (đoạn Như Quỳnh, Chợ Đậu, huyện Văn Lâm), với hơn một vạn dân công thuộc các huyện Thuận Thành, Gia Lương (Bắc Ninh) và Văn Lâm, Ân Thi, Phù Cừ, thị xã Hưng Yên, Tiên Lữ (Hưng Yên). Nhân dịp này, Bác đã tặng ba Huy hiệu cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc.
Lần thứ ba, ngày 25/10/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục về thăm công trường. Người nói chuyện, động viên cán bộ và dân công đang thi công, khuyến khích mọi người thi đua lao động để hoàn thành công trình trước kế hoạch.
Lần thứ tư, ngày 20/2/1959, Bác về thăm công trình cống Xuân Quan và thăm nhân dân xã Bát Tràng (Hà Nội), thể hiện sự quan tâm sâu sát đến cả công trình và đời sống người dân khu vực.