rssheader

28/11/2020

Thầy giáo vượt suối đưa học sinh đến trường

Tú Anh - 14/11/2020, 09:11 GMT+07 | Giáo dục
Thầy Trung Hiếu chụp ảnh cùng học sinh vùng cao. Thầy Trung Hiếu chụp ảnh cùng học sinh vùng cao.

“Gánh" con chữ lên vùng biên giới

Lớn lên tại thành phố Đồng Hới nhưng bố mẹ quê gốc ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, thầy Nguyễn Trung Hiếu (sn 1980) thường nói vui mình là “người con của Bố Trạch”. Ước mơ theo đuổi sự nghiệp “gõ đầu trẻ”, thầy Hiếu nộp hồ sơ vào Trường ĐH Đà Lạt, thành phố Đà Lạt.

Sau khi tốt nghiệp năm 2004, thầy ứng tuyển làm giáo viên hợp đồng trong các trường miền xuôi tỉnh Quảng Bình. Qua 4 năm, thầy được điều về làm việc tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Bố Trạch, xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, khi ấy mới thành lập được hai năm.

Dẫu biết “cắm bản” nhiều vất vả, gian nan nhưng vì tình yêu với nghề giáo, thầy Hiếu vẫn quyết tâm đi. Thế nhưng, thầy chưa bao giờ lường hết được những khó khăn phải đối mặt.

Nằm trên con đường xuyên dãy Trường Sơn, bên biên giới Tây, Thượng Trạch là Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Bố Trạch. Ngày thầy Hiếu về trường công tác, Quảng Bình đổ mưa lớn, nghênh đón đợt lũ lịch sử. Khởi hành lúc 9h tại nhà ở thị trấn Phong Nha, thầy Hiếu mất một ngày mới tìm được đến trường.

Thầy Hiếu và học sinh vượt suối đến trường.

Đi cùng thầy Hiếu còn hai thầy giáo khác. Do đường lầy lội với vô số ổ voi, ổ gà, xe của các thầy bị hỏng, chỉ có thể dắt bộ. Gặp mưa lớn, không thể tiếp tục dắt, cả ba dùng những cành cây lớn chọc ngang xe để khiêng. Vừa đi bộ vừa khiêng xe gần một tiếng, đoàn của thầy Hiếu mới tìm thấy ánh đèn vàng leo lét của trường Bố Trạch giữa núi rừng.

Dạy môn Lịch sử, thầy Hiếu luôn trăn trở tìm cách khiến học sinh không chỉ thích học mà còn hiểu và ghi nhớ các sự kiện, mốc thời gian. Mỗi lần về nhà, thầy thường lên mạng tìm kiếm bài giảng của giáo viên miền xuôi, câu chuyện lịch sử để kết hợp giảng dạy cùng chương trình trong sách giáo khoa.

Những năm gần đây, Trường Phổ thông dân tộc nội trú Bố Trạch được trang bị điện và TV tại phòng sinh hoạt tập thể. Tận dụng cơ hội này, thầy Hiếu chiếu phim, đọc sách lịch sử tại phòng sinh hoạt chung cho các em học sinh trong trường. Thời gian tới, thầy sẽ cùng ban giám hiệu nhà trường thành lập Câu lạc bộ Lịch sử để giúp lan tỏa tình yêu với bộ môn này đến học sinh.

Qua một năm công tác, thầy Hiếu đã coi Trường Phổ thông dân tộc nội trú Bố Trạch là ngôi nhà thứ hai. Đồng nghiệp, học sinh cùng đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây là những người thân trong gia đình. Những ngày về lại nhà dưới đồng bằng, thầy Hiếu cho biết: “Tôi thấy nhớ học sinh, đồng nghiệp, trong người bứt rứt, chỉ muốn lái xe máy quay lại trường".

Kỷ niệm đi “bắt” học sinh

Mỗi ngày, thầy Hiếu vào bản vận động học sinh đi học.

Chưa kịp thông thạo địa hình gập ghềnh nơi đây, thầy Hiếu phải đối mặt với khó khăn đầu tiên là vận động học sinh tới lớp. Thầy Hiếu cho biết: Gần 300 học sinh trường đều là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn. Các em chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học, thường xuyên trốn học về nhà phụ cha mẹ làm nương rẫy.

Ngày ngày sau buổi học sáng, thầy phải đến từng bản tìm học sinh. Nhiều em thấy bóng thầy là trốn biệt nên thầy Hiếu dựng xe ở đầu bản rồi đi bộ vào rừng, lên nhà chòi trông nương rẫy. Không chỉ tìm học sinh, thầy vào từng nhà vận động, giải thích cho phụ huynh hiểu tầm quan trọng của việc học rồi xin phép đưa các em về trường. Cứ như vậy, thầy Hiếu mất cả buổi chiều, thậm chí đến tối khuya mới quay lại trường.

“Nhớ năm 2009, tôi lên bản 61 tìm học sinh. Tôi thuyết phục được gần hết học sinh bản về trường, duy chỉ có một nữ sinh nhất quyết không chịu đi. Khi tôi tìm đến nhà, em liều lĩnh nhảy từ nhà sàn cao xuống khoảng sân sau và bị ngã. Bố em tức giận, cầm roi đánh con. Chẳng kịp nghĩ ngợi gì, tôi xông ra đỡ đòn thay học sinh, miệng nài nỉ: “Xin bố đừng đánh em. Bố cho em về trường với thầy để học con chữ”, thầy Hiếu xúc động kể lại.

Những ngày mưa, con đường vùng cao trơn tuột nhưng mong “học sinh có tương lai tươi sáng hơn", thầy lại lặn lội vào bản. Có ngày nước lũ dâng ngang ngực, thầy trò phải nắm tay nhau lội qua. Vừa đi, thầy Hiếu vừa sợ khi nghĩ đến cảnh học sinh bị dòng nước cuốn trôi, bản thân không làm tròn trách nhiệm với nhà trường và gia đình các em.

13 năm cắm bản, thầy Hiếu ngẫm thấy tình yêu nghề thôi là chưa đủ mà còn cần tinh thần nhiệt huyết, tấm lòng đồng cảm, sẻ chia với khó khăn, hoàn cảnh của các em nhỏ và người dân vùng cao. “Với mỗi giáo viên vùng cao, trăn trở lớn nhất vẫn là về chất lượng giáo dục, phải làm sao để học sinh yêu thích việc học, không còn trốn về nhà. Tôi chỉ hy vọng có nhiều động lực và sức lực để gắn bó với những đứa trẻ vùng cao", thầy Hiếu cho biết.

Ý kiến của bạn

Bạn còn 500/500 ký tự

Xem thêm