Đào tạo nhân lực chất lượng cao người DTTS: Xung lực mạnh thúc đẩy nguồn lực tại chỗ

GD&TĐ - Đề án đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số giai đoạn 2026-2035 không chỉ mở rộng cơ hội học tập cho học sinh vùng khó, mà còn đặt nền móng hình thành đội ngũ nhân lực tại chỗ, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.

Giờ tự học của học sinh Trường Phổ thông dân tộc nội trú Nam Trà My (TP Đà Nẵng). Ảnh: NTCC
Giờ tự học của học sinh Trường Phổ thông dân tộc nội trú Nam Trà My (TP Đà Nẵng). Ảnh: NTCC

Nỗi lo đi học đường xa

Năm 2022, tốt nghiệp Trường phổ thông dân tộc nội trú Quảng Nam, Zơ Râm T.Đ. trúng tuyển vào Trường Đại học Quảng Nam. Nhưng chỉ học được 1 học kỳ thì Đ. nghỉ học vì gia đình quá khó khăn. Đ. ra Đà Nẵng làm công nhân cho một công ty thủy sản. “Em làm được 8 tháng, hằng ngày lặp đi lặp lại việc rút xương cá, đóng gói,… Nhưng rồi em thấy không thể nào làm công việc này suốt đời được. Em muốn được đi học trở lại, để thực hiện ước mơ dang dở của mình”, Đ. kể.

Và Đ. trở lại giảng đường đại học, theo học năm thứ 2 ngành sư phạm Tiểu học, chậm hơn 2 năm so với các bạn cùng lứa tuổi. Theo học chế độ cử tuyển của tỉnh Quảng Nam (cũ), những sinh viên ngành Sư phạm được hỗ trợ chi phí học tập mỗi tháng là 3.600.000 đồng nhưng nhận theo từng học kỳ và Đ. vẫn chưa nhận được khoản này. Vì vậy, mỗi dịp nghỉ hè, Đ. đều ra phố làm thêm để dành dụm tiền cho năm học mới. Nhưng thu nhập từ việc làm thời vụ cũng không được bao nhiêu.

Từ tháng 9/2025 đến nay, Zơ Râm T.Đ. chỉ nhận được 400.000 đồng do ba mẹ gửi xuống. Đ. đi làm thêm tuần 2 buổi, tiền công mỗi buổi là 75.000 đồng. Đ. ở ký túc xá của Trường Đại học Quảng Nam và nấu ăn chung với bạn. Mỗi lần đi chợ, 2 bạn chỉ mua thức ăn gói gọn từ 20.000 - 30.000 đồng/tuần, nên gần như chủ yếu chỉ ăn mì tôm là chính. “Em không muốn bị dang dở và bỏ lỡ cơ hội như năm trước. Em đang cố gắng học hành chăm chỉ, dù không có gì để ăn, dù có nhịn đói, dù trong người chỉ còn vài đồng, em cũng muốn thực hiện được ước mơ”, Đ. chia sẻ.

Trúng tuyển chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế nhưng D. (người Cadong, xã Trà Vân, TP Đà Nẵng) không muốn đi học vì nhà quá nghèo. Mẹ em gom góp vay mượn cũng chỉ được 2.000.000 đồng, thầy cô Trường Phổ thông dân tộc nội trú Nam Trà My tìm thêm nguồn hỗ trợ giúp D. yên tâm nhập học. Nhờ đó, D. có được chỗ trọ miễn phí, một nhà hảo tâm hỗ trợ chi phí sinh hoạt cho đến khi tốt nghiệp đại học, có thêm chiếc xe máy cũ và máy vi tính để đi lại, học tập...

Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 2776/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm giai đoạn 2026 - 2035, định hướng đến năm 2045 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang đứng trước nhiều yêu cầu mới.

Một nội dung mà học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số như Zơ Râm T.Đ. đặc biệt quan tâm là Đề án tập trung nghiên cứu, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù cho người học là người dân tộc thiểu số, như miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, sinh hoạt, chỗ ở, bồi dưỡng Ngoại ngữ, Tin học; xây dựng cơ chế phát hiện, bồi dưỡng tài năng; đổi mới tuyển sinh, đào tạo linh hoạt và chính sách thu hút giáo viên, cán bộ chất lượng cao công tác tại vùng sâu, xa, biên giới.

xung-luc-manh-thuc-day-nguon-luc-tai-cho-2.jpg
Sinh viên Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại tỉnh Hà Giang. Ảnh: Phương Thảo

Mở rộng cơ hội học tập

Đề án áp dụng đối với học sinh, sinh viên, học viên là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo hoặc thuộc hộ nghèo, theo học các ngành, lĩnh vực trọng điểm. Các trường dự bị đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, học viện, viện nghiên cứu và các cơ quan, tổ chức liên quan cũng là đối tượng triển khai.

Từ thực tiễn cơ sở, bà Phạm Thị Xuân - Hiệu trưởng Trường PTDTBT Tiểu học Dào San (xã Dào San, tỉnh Lai Châu) cho rằng, Đề án mở ra cơ hội tiếp cận chương trình giáo dục chất lượng cao một cách bình đẳng hơn cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo bà Xuân, học sinh các vùng khó chính là nguồn nhân lực tại chỗ, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại địa phương nếu được đầu tư đào tạo bài bản, dài hạn.

Ở góc độ đào tạo đại học, PGS.TS Hoàng Văn Hùng - Giám đốc Đại học Thái Nguyên cho biết, Đại học Thái Nguyên hiện có 7 trường đại học thành viên, 1 trường cao đẳng và 2 phân hiệu tại Lào Cai, Hà Giang; trong đó, tỷ lệ người học là người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 35%. Đây là lực lượng quan trọng trong chiến lược đào tạo nhân lực cho khu vực trung du, miền núi phía Bắc.

Theo PGS.TS Hoàng Văn Hùng, nhiều địa phương vùng cao vẫn thiếu hụt nguồn nhân lực có trình độ, nhất là ở lĩnh vực then chốt như y tế, giáo dục, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch và chuyển đổi số. Đề án được kỳ vọng sẽ tạo bước đột phá về chất lượng đội ngũ cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số, góp phần thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các vùng.

Dẫn chứng từ thực tế địa phương, ông Đặng Hồng Cường - Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Lạng Sơn cho hay, Lạng Sơn có trên 80% diện tích là đồi núi, nhiều xã đặc biệt khó khăn. Để học sinh đến trường đúng độ tuổi và theo đuổi con đường học tập lâu dài, cần những chính sách đầu tư căn cơ, ổn định. Theo ông Cường, Đề án tạo điều kiện để con em đồng bào dân tộc thiểu số được đào tạo bài bản, sau đó quay trở lại quê hương cống hiến.

“Một thực tế lâu nay là nhiều địa phương phải tuyển dụng nhân lực từ vùng thuận lợi về công tác tại vùng khó. Tuy nhiên, sau 5 - 7 năm, không ít người tìm cách chuyển đi, dẫn tới tình trạng thiếu hụt nhân lực kéo dài. Đề án sẽ góp phần giải quyết bài toán chỗ thừa - chỗ thiếu, thu hẹp khoảng cách vùng miền”, ông Cường nhấn mạnh.

Tại Trường Đại học Y - Dược (Đại học Thái Nguyên), năm 2025 tuyển sinh 1.500 sinh viên thì có khoảng 500 sinh viên là người dân tộc thiểu số, trong đó 30 sinh viên hệ dự bị đại học.

TS Nguyễn Quang Đông - giảng viên chính khoa Khoa học cơ bản cho biết, theo mục tiêu của Đề án, mỗi năm sẽ tuyển mới 2.000 - 2.500 sinh viên, trong đó nhóm ngành sức khỏe chiếm khoảng 7 - 10%. Đây sẽ là nguồn bổ sung quan trọng cho hệ thống y tế cơ sở tại các xã miền núi, vùng biên giới, nơi đang thiếu cán bộ y tế cả về số lượng và chất lượng.

Trong khi đó, TS Nguyễn Linh Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng lại cho rằng, thay vì chỉ dừng lại ở phổ cập hay đào tạo nghề ngắn hạn, Đề án đã thể hiện tư duy chiến lược khi tập trung vào các ngành trọng điểm và tiếp cận toàn diện từ hỗ trợ học phí đến kỹ năng mềm, ngoại ngữ và kết nối đầu ra.

Tuy nhiên, có những thách thức lớn trong khâu thực thi, đó là khoảng cách đáng kể giữa năng lực xuất phát điểm của học sinh dân tộc thiểu số so với yêu cầu khắt khe của chương trình chất lượng cao.

Nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chính sách dễ rơi vào tình trạng lãng phí nguồn lực khi người học không theo kịp hoặc không có vị trí việc làm phù hợp sau tốt nghiệp. Bên cạnh đó, thiếu cơ chế đãi ngộ đủ mạnh cũng khiến việc thu hút chuyên gia về vùng khó khăn trở nên kém bền vững.

Nâng “chất” giáo dục phổ thông

Ông Nguyễn Hữu Thịnh - Hiệu trưởng Trường THPT Hướng Phùng (xã Hướng Phùng, Quảng Trị) cho biết, theo khảo sát, khoảng 3 năm trở lại đây, trong số 30% học sinh đỗ đại học hằng năm, không có em nào người dân tộc thiểu số.

“Trước đây, một số học sinh người dân tộc đỗ hệ cao đẳng sư phạm mầm non hoặc đại học hệ cử tuyển. Nhưng mấy năm lại đây, khi điểm đầu vào của các trường sư phạm tăng lên, hệ cử tuyển không còn thì gần như cơ hội vào đại học của các em cũng hẹp lại. Các ngành công nghệ thông tin, y dược, nông - lâm nghiệp không có học sinh dân tộc thiểu số nào trúng tuyển”, ông Thịnh thông tin.

Ông Thịnh kỳ vọng khi mô hình trường liên cấp dân tộc nội trú đang xây dựng tại xã Hướng Phùng, học sinh được học tập trung 2 buổi/ngày, có điều kiện bồi dưỡng, phụ đạo để nâng chất lượng thì đầu vào của Trường THPT Hướng Phùng sẽ được cải thiện, tỷ lệ học sinh người dân tộc thiểu số trúng tuyển đại học, cao đẳng nhờ vậy cũng nâng cao.

“Học sinh Trường THPT Hướng Phùng có khoảng 75% là con em đồng bào dân tộc thiểu số. Các em hạn chế cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt nên giáo viên vừa dạy học bài mới vừa phải ôn lại kiến thức các lớp dưới cho học sinh.

Nếu cải thiện được đầu vào, nhà trường sẽ không phải bổ túc nhiều kiến thức của lớp dưới, có thêm thời gian để nâng chất lượng đầu ra, tăng tỷ lệ học sinh người dân tộc thiểu số đỗ đại học, nhất là những ngành gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương như nông - lâm nghiệp, du lịch...”, ông Thịnh bày tỏ.

Còn theo TS Lục Quang Tấn - Giám đốc Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại tỉnh Hà Giang, chất lượng đầu vào của sinh viên người dân tộc thiểu số chưa đồng đều, nền tảng kiến thức và kỹ năng còn hạn chế, trong khi điều kiện kinh tế của nhiều gia đình khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng theo học lâu dài.

Để Đề án triển khai hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ người học như học bổng, miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí sinh hoạt, ký túc xá. Cùng đó, đào tạo cần gắn chặt với nhu cầu sử dụng nhân lực của địa phương, có cơ chế phối hợp đồng bộ giữa nhà trường, chính quyền các cấp và đơn vị sử dụng lao động.

Quan trọng hơn, cần xây dựng chính sách thu hút, bố trí việc làm phù hợp để sinh viên sau tốt nghiệp yên tâm trở về địa phương công tác, phát huy hiệu quả đầu tư và tạo động lực phát triển bền vững cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

TS Nguyễn Quang Đông đề xuất cần tăng chỉ tiêu đào tạo dự bị đại học nhằm nâng cao số lượng và chất lượng sinh viên trúng tuyển. Bên cạnh đó, cần tiến hành đánh giá tổng thể về quy mô sinh viên dân tộc thiểu số và nhu cầu nhân lực còn thiếu của từng địa phương, từ đó có kế hoạch tuyển sinh, đào tạo và sử dụng nhân lực phù hợp, tránh tình trạng đào tạo không gắn với nhu cầu.

TS Nguyễn Linh Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng: “Để Đề án thực sự tạo ra xung lực mạnh mẽ cho sự đổi thay, chúng tôi đề xuất 3 giải pháp then chốt. Thứ nhất, cần triển khai đào tạo sớm từ bậc phổ thông để bồi dưỡng tiềm năng và trang bị kỹ năng nền tảng.

Thứ hai, công tác đào tạo phải dựa trên cơ chế “đặt hàng” từ địa phương và doanh nghiệp nhằm bảo đảm lộ trình nghề nghiệp rõ ràng. Cuối cùng, phải có chính sách giữ chân nhân lực thông qua môi trường làm việc tốt và thu nhập tương xứng. Nếu được triển khai thực chất và kiên trì, Đề án không chỉ giải quyết bài toán bất bình đẳng về cơ hội mà còn tạo động lực phát triển dài hạn cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số”.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ