Biểu tượng chiến tranh trong tiểu thuyết 'Mưa đỏ'

GD&TĐ - Biểu tượng (symbol) thực chất là một thuật ngữ trong lý thuyết phân tâm học do Sigmund Freud đề xướng từ những năm đầu của thế kỷ XX.

Dòng sông Thạch Hãn.
Dòng sông Thạch Hãn.

Theo thời gian, nội hàm của “biểu tượng” được hiểu rộng hơn, gắn liền với các yếu tố khác như tôn giáo, văn hóa, dân tộc.

Nhìn chung, biểu tượng là những biểu trưng, tượng trưng, ký hiệu, dấu hiệu hay mẫu tượng… mang tính thẩm mỹ và tính chủ quan của người sáng tạo. Biểu tượng là “lớp vỏ” bao bọc những vỉa tầng và những vỉa tầng này có khả năng tác động sâu xa vào tư tưởng, tình cảm, tư duy con người.

Nguồn gốc của biểu tượng là văn hóa, thoát thai từ văn hóa, tồn tại trong ký ức nhân loại (vô thức tập thể) suốt quá trình phát triển và biến động của lịch sử loài người.

Theo dòng tự sự chấn thương trong “Mưa đỏ” là sự xuất hiện của những biểu tượng chấn thương. Đó là kết quả của những điều mà nhà văn không thể biểu đạt cụ thể, không thể gọi tên hoặc những ký ức bị chôn vùi.

Biểu tượng chấn thương như một cách để nhà văn lấp đầy khoảng trống của những điều không thể kể. Chúng lặp đi lặp lại trong suốt tiểu thuyết, nhằm thể hiện hiện thực khốc liệt của chiến tranh, những tổn thương hữu hình trên thân thể hoặc tổn thương vô hình trong đời sống nội tâm con người, tạo ra vòng luẩn quẩn ám ảnh trong tâm trí nhân vật và người đọc.​

Dòng sông trong bom đạn

Trước hết, dòng sông trong tiểu thuyết “Mưa đỏ” không đơn thuần chỉ là phông nền cho sự xuất hiện của các nhân vật, mà còn là một biểu tượng nghệ thuật gắn liền với những chấn thương khủng khiếp trong sự kiện 81 ngày đêm đấu tranh quật cường của quân và dân ở vùng đất lửa Quảng Trị.

Trong tác phẩm, dòng sông ấy được gọi tên cụ thể, đó là sông Thạch Hãn - con sông đã chứng kiến cuộc trường chinh bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử của dân tộc Việt Nam. Khi cuộc giao tranh khốc liệt diễn ra, sông Thạch Hãn trở thành tuyến giao thông huyết mạch trong việc cung cấp quân số, chi viện cho Thành cổ. Bởi thế, đế quốc Mỹ không ngừng ném bom khủng bố con sông này.

Dòng sông đã chứng kiến cả sự hy sinh, mất mát, lẫn sự ghê gớm, tàn bạo của chiến tranh. Nó trở thành “ký ức vật chất” lưu giữ dấu ấn của bạo lực, chứng nhân câm lặng của chấn thương tập thể trong lịch sử và văn chương.

Bằng hình thức diễn xuất (enactment) - “diễn xuất lại cái sự kiện chấn thương nguyên ủy” - Chu Lai đã mô phỏng lại chấn thương (mà đỉnh điểm là sự hy sinh) của người lính Giải phóng trên dòng sông Thạch Hãn. Việc nhà văn không gọi tên cụ thể hẳn có lý do riêng, mà dễ nhận thấy nhất là sự khái quát những chấn thương cá nhân và nâng lên thành chấn thương tập thể, làm toát lên bản chất kinh khủng của chiến tranh và tội ác của kẻ thù xâm lược đã gieo rắc đau thương cho dân tộc: “Dòng sông lửa? Không, chỉ đúng phần nào. Dòng sông chết? Cũng chưa chính xác. Có lẽ ba tiếng Dòng sông máu mới nói lên đầy đủ được cái hình hài quặn đau kinh hoàng của nó” (tr.229).

Không dừng lại ở đó, sông Thạch Hãn trong “Mưa đỏ” còn tượng trưng cho vết thương chiến tranh. 81 ngày đêm suốt “mùa Hè đỏ lửa”, sông Thạch Hãn hiện lên với sắc thái đỏ ngầu. Màu đỏ của dòng sông có mối tương quan mật thiết với biểu tượng “mưa đỏ”, gợi ra sự khủng hoảng của lịch sử, sự chết chóc và nỗi ám ảnh kéo dài: “Pháo sáng đỏ trời. Pháo nổ dựng đáy sông. Khi các cột nước ập xuống, nằm im không dựng lên nữa thì mới lộ ra những xác người, xác thuyền trồi lên, trôi bập bềnh theo dòng nước loang màu đỏ” (tr.229 - 230).

Những cảnh tượng đó đã tự nó nói lên thật nhiều về nỗi đau chiến tranh. Nó tác động mạnh đến tâm lý của con người, gây ra những chấn thương tâm lý. Nhân vật khi đối diện với dòng sông, chứng kiến xác người trôi nổi, máu nhuộm đỏ mặt sông, có cảm giác day dứt, ám ảnh, khó có thể chữa lành.

Có thể thấy, xuyên suốt “Mưa đỏ”, Chu Lai nhiều lần tái hiện khung cảnh của sông Thạch Hãn trong những hoàn cảnh khác nhau. Trong chiến tranh, đó là dòng sông chứng kiến sự hy sinh đau thương của những người lính Giải phóng, trong đó, có những người tuổi đời còn rất trẻ. Sông Thạch Hãn trở thành biểu tượng cho nỗi đau, mất mát, sự giằng xé giữa sống và chết, chứng nhân của chấn thương tập thể. Trong thời bình, “dòng Thạch Hãn vẫn trôi chảy lành hiền, trễ nải mà dẫu có cố hình dung thì vẫn không thể nào sống lại được cái ký ức về một khúc sông khốc liệt, đẫm máu nhất trong cả cuộc chiến tranh dặc dài của dân tộc” (tr.446).

Sông Thạch Hãn là biểu tượng của ký ức chấn thương, ký ức của dân tộc trong thời kỳ chiến tranh khói lửa, là sự nối liền giữa quá khứ và hiện tại, biểu tượng chói ngời của lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh và khát vọng độc lập của dân tộc Việt Nam.​

Mưa đỏ hay là máu?

Một biểu tượng khác không thể không đề cập, hiện diện ngay từ nhan đề và trở thành điểm nhấn ám ảnh của toàn bộ tác phẩm, chính là “mưa đỏ”. Trong thời kỳ chiến tranh cách mạng, màu đỏ vốn là một biểu tượng. Trong tiểu thuyết “Mưa đỏ” của Chu Lai, mưa đỏ là một biểu tượng lớn. Thế nhưng, khi ta đặt tác phẩm này trong dòng chảy của văn học chống Mỹ, màu đỏ trong biểu tượng mưa đỏ của Chu Lai lại không mang ý nghĩa của màu đỏ trong thơ Nguyễn Mỹ (“Cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ”, “Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy”), mà kết tinh từ những mất mát, đau thương, một biểu tượng của sự hủy diệt và chấn thương. Nói cách khác, đó là màu đỏ của máu những người lính Giải phóng đã sống, chiến đấu và hy sinh nơi tuyến đầu máu lửa.

Ra đời năm 2015, tiểu thuyết “Mưa đỏ” của Chu Lai không ngần ngại bóc trần tất cả những gì khốc liệt, bi thương, ghê gớm nhất của chiến tranh. Rất nhiều lần biểu tượng “máu” xuất hiện với những dạng thức khác nhau, khi thì “Máu phọt lên mặt, phọt cả lên trần nhà” (tr.232), “Máu từ đó chảy xuống thành vũng dưới nền xi măng” (tr.232); khi là máu chảy ra từ vết thương của một người lính được Chu Lai gọi tên: “Băng quấn đến đâu, máu từ bụng từ ngực Tạ trào ra đến đó” (tr.343), “Cường hộc lên một tiếng đau đớn, gục mặt vào bộ ngực đẫm máu của bạn” (tr.408); khi là máu của vô số người đã tử trận trên “dòng nước loang màu đỏ” (tr.230).

Từ máu - một biểu tượng của nỗi đau thân thể, Chu Lai đã nâng lên thành “mưa đỏ” để thể hiện sự hủy diệt ghê gớm của chiến tranh khắc sâu vào ký ức cộng đồng, dân tộc. Mưa đỏ thực chất là cách gọi khác của mưa máu, vừa làm nhẹ đi (chứ không cố tình né tránh, che giấu) tính chất bi thương, khốc liệt của chiến tranh, vừa bao chứa nhiều vỉa tầng của chấn thương: “Trời vẫn đổ mưa. Những hạt mưa đang biến thành màu đỏ. Mưa đỏ. Mưa máu…” (tr.409). Chiến tranh, vì thế, trở thành một dòng ký ức ám ảnh không dứt, để lại nỗi đau dai dẳng trong tinh thần, giày vò tâm hồn những người sống sót sau cuộc chiến.

Ở một góc độ khác, mưa đỏ còn là biểu tượng của sự tái sinh. Đó là sự hóa thân của máu xương người lính thành cơn mưa tưới lên mảnh đất quê hương, nuôi dưỡng đất đai, làm hồi sinh sự sống. Từ trong máu lửa, chết chóc, khát vọng hòa bình và sự hồi sinh đã được gieo mầm. Mưa đỏ vừa biểu trưng cho sự hủy diệt, vừa biểu trưng cho sự tái sinh, thể hiện nghịch lý bi thương nhưng cũng đầy sức sống trong lịch sử hào hùng của dân tộc.

bieu-tuong-chien-tranh-trong-tieu-thuyet-mua-do-1.jpgĐài tưởng niệm Thành cổ Quảng Trị.

Thành cổ trên vùng đất lửa

Nếu biểu tượng dòng sông, mưa đỏ trong “Mưa đỏ” (Chu Lai) thiên về biểu trưng cho chấn thương cá nhân, chấn thương tập thể trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ; thì biểu tượng Thành cổ lại thiên về biểu trưng cho chấn thương lịch sử, những đứt gãy trên hành trình kiến tạo đất nước.

Trong sự kiện “mùa Hè đỏ lửa” 1972, Thành cổ Quảng Trị có ý nghĩa chiến lược quan trọng, mục tiêu tượng trưng mà Mỹ - ngụy ra sức tái chiếm, nhằm giành lợi thế ở Hội nghị Paris.

Tương tự dòng sông Thạch Hãn, trong tiểu thuyết “Mưa đỏ”, Thành cổ Quảng Trị cũng là một biểu tượng nghệ thuật, ẩn chứa nhiều tầng nghĩa. Thứ nhất, Thành cổ Quảng Trị không chỉ là bức tường thành nhuốm màu thời gian, mà còn là nơi thấm đẫm máu xương của hàng vạn chiến sĩ đã hy sinh. Từ đây, có thể thấy, Thành cổ Quảng Trị là biểu tượng cho sự hy sinh tột cùng của những người lính Giải phóng quân trong 81 ngày đêm máu lửa.

Trên nền đổ nát của Thành cổ Quảng Trị, biển máu, mưa bom, xác người đã biến Thành cổ trở thành “nghĩa địa sống”, “cối xay thịt” ghê rợn, đầy ám ảnh. Không ít lần trong tác phẩm, không gian Thành cổ được Chu Lai phác họa bằng dấu vết của sự hủy diệt: “Ngổn ngang, bừa bộn, mùi tử khí xông lên sặc sụa. Chốc chốc họ lại vấp lại trượt lại giẫm phải một cái rễ cây, một xác chết… không hiểu của phía bên kia hay phía bên này nếu không chú mục nhìn vào bộ đồ họ đang mặc, đôi giày dưới chân hoặc cái mũ họ đội trên đầu. Đó đây có những tốp đi gom tử sĩ đem chôn, giọt đèn pin trên tay họ run rẩy, nhấp nháy như giọt ma trơi trên một vùng nghĩa địa. Chôn trong đêm, chôn âm thầm, chôn tạm bợ, chôn cả hai sắc lính như không phải là chôn mà chỉ là vùi nhanh vào mặt đất một thân thể con người không còn nguyên vẹn” (tr.155).

Thành cổ - nơi lưu giữ trầm tích lịch sử, văn hóa, đã trở thành nấm mồ chung của hàng vạn con người - chứng nhân của nỗi đau chiến tranh. “Thành cổ lúc này như một cơ thể đang bị lóc dần từng mảng thịt, từng lóng xương” (tr.305), đó cũng chính là thân phận của con người, đặc biệt là những chiến sĩ tuổi đời còn rất trẻ, đã bị chiến tranh hủy diệt từng ngày, từng giờ.

Xuyên suốt “Mưa đỏ”, Thành cổ thường được đặc tả với hai sắc thái, hoặc là ầm ĩ bom đạn: “Nhìn rõ những quả bom đen sì rơi vùn vụt chênh chếch xuống trận địa. Bom chưa nổ pháo đã bắn. Bắn cấp tập. Những tiếng nổ hoàn rền lên như sự nổi giận cuồng nộ của Thiên đình giáng xuống trần gian” [4, tr.303], hoặc là vắng vẻ đến u ám, thê lương - không gian của tang thương, chết chóc: “Mới năm giờ chiều mà khu Thành cổ đã chuyển màu u ám, tối nhờ. Chỉ có tiếng mưa rơi vào tĩnh lặng. Trong cái tĩnh lặng rất đáng nghi ngờ đó, lại chỉ nghe tiếng ruồi nhặng kêu u u. Tiếng u u khuếch tán, tăng dần thành một âm thanh kinh dị, dai nhách quẫy lộng khắp không gian” (tr.380).

Buổi chiều là thời điểm mà Chu Lai lựa chọn để làm hiện lên vẻ u tịch, ma mị của cổ thành, khắc họa dáng vẻ của một tử địa mà chiến tranh đã tạo dựng, dấu tích của khủng hoảng lịch sử. Thứ hai, Thành cổ Quảng Trị còn là biểu tượng của lòng yêu nước và tinh thần bất khuất. Dù là “địa ngục trần gian”, song, Thành cổ Quảng Trị vẫn sáng chói ý chí kiên cường và tinh thần chiến đấu của người lính. Việc những người lính trẻ tự nguyện lên đường, không tiếc máu xương vì sự nghiệp bảo vệ Thành cổ, chính là giữ lấy một biểu tượng thiêng liêng của dân tộc, của Tổ quốc. Thành cổ, vì thế, trở thành một biểu tượng “kép”: Vừa là nỗi đau, vừa là niềm tự hào của đất nước.

Sau chiến tranh, Thành cổ trở thành “địa chỉ đỏ” của ký ức dân tộc. Trong tâm thức của những người sống sót, nó còn là nỗi ám ảnh không thể xóa nhòa, phản ánh tính chất dai dẳng của chấn thương: “Ám ảnh. Trong mọi sự ám ảnh thì cái ám ảnh về chiến tranh có lẽ là sự ám ảnh ghê gớm nhất. Một nỗi ám ảnh màu xám, hút hoẳm, khắc khoải, giày vò, giằng xé, vỡ vụn chắc còn lâu lắm mới có thể nguôi ngoai, vơi nhẹ đi được phần nào trên mảnh đất này, trong tâm hồn người dân nơi đây” (tr.442).

Ba biểu tượng gắn với chấn thương (dòng sông, mưa đỏ, Thành cổ) được kiến giải ở trên là những biểu tượng tiêu biểu, bao trùm tiểu thuyết “Mưa đỏ” của Chu Lai. Thông qua ba biểu tượng này, nhà văn phản ánh hiện thực khốc liệt của chiến tranh, tái hiện toàn bộ ký ức chấn thương của dân tộc trong chiến tranh: Dòng sông như chứng nhân lặng lẽ, chảy mãi với thời gian; mưa đỏ vừa gợi ra sự hủy diệt, vừa gieo mầm sự sống; còn Thành cổ vừa là không gian thấm đẫm máu xương, địa ngục trần gian, vừa là tượng đài bất khuất. Chúng không chỉ khắc ghi nỗi đau và sự hy sinh của cả một thế hệ yêu nước, mà còn khẳng định khát vọng hòa bình, tinh thần dân tộc và khả năng hồi sinh của Tổ quốc Việt Nam.

Như vậy, “Mưa đỏ” không chỉ là một tác phẩm văn học về chiến tranh, mà còn góp phần định hình diễn ngôn tự sự chấn thương trong văn học Việt Nam, giúp người đọc hiểu rõ hơn những vết thương lịch sử vẫn còn tồn lưu trong ký ức dân tộc. Qua đó, nghiên cứu tự sự chấn thương trong “Mưa đỏ” mở ra hướng tiếp cận hữu ích để giải mã mối quan hệ giữa văn học, ký ức và lịch sử, đồng thời khẳng định vai trò của văn chương trong hành trình nhận diện và chữa lành chấn thương tập thể sau chiến tranh.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ