Để đạt con số này, các chuyên gia đã gợi ý nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động.
Từ Nghị quyết đến sức mạnh quốc gia
5 năm qua, quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo đã tạo ra những chuyển biến đáng kể. Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao, thể hiện qua tỷ lệ lao động, đào tạo tăng mạnh từ 64,5% năm 2020 lên 70% năm 2025 (trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 24,1% lên khoảng 29%). Đặc biệt, chỉ số chất lượng đào tạo nghề của Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN, khẳng định tính hiệu quả chính sách phát triển nhân lực có kỹ năng.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động, đặc biệt lao động có tay nghề để thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu từ 2026 - 2030 được Đại hội XIV của Đảng đề ra, như tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35-40%. Việc liên kết giữa doanh nghiệp và nhà trường trong khâu đào tạo được xem là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn cho rằng, chặng đường tới đòi hỏi quyết tâm mạnh mẽ hơn, đặc biệt là triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết 71. Nguồn nhân lực cần sự chuẩn bị kỹ lưỡng về tài chính, cơ sở vật chất, đặc biệt chương trình mục tiêu quốc gia nhằm hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Theo Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên (Bộ GD&ĐT) Trương Anh Dũng, một trong những điểm mới của hệ thống giai đoạn tới là phải sắp xếp đảm bảo tinh gọn, chuẩn hóa, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo để đáp ứng nhu cầu nhân lực có kỹ năng nghề cao cho phát triển kinh tế - xã hội. Cụ thể, giáo dục nghề nghiệp cần chuyển mình mạnh mẽ, không dạy nghề theo cách cũ.
Thực tế, nhiều cơ sở đào tạo đã tái cấu trúc chương trình theo chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Cùng với đào tạo chính quy, các chương trình đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng và cấp chứng chỉ nghề cho lao động đang làm việc được mở rộng, góp phần tăng nhanh tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ trong xã hội.
Ghi nhận tại tỉnh Bắc Ninh, trong một nhà máy cơ khí hiện đại, các dãy máy CNC chạy liên tục, thay thế phần lớn thao tác thủ công. Mọi công đoạn được lập trình trên máy tính với độ chính xác gần như tuyệt đối. Công nghệ giúp năng suất tăng vọt, nhưng đồng thời đòi hỏi người lao động phải được đào tạo bài bản.
Anh Vũ Ngọc Hùng - Công ty TNHH Smart Tech Vina trao đổi: “Nhiều người nghĩ cơ khí là hàn xì, bốc vác. Thực tế bây giờ là lập trình trên Mastercam, NX, điều khiển máy tự động với độ chính xác gần 100%. Không học bài bản thì không thể làm được”.
Để đáp ứng nhu cầu ấy, sinh viên ngành gia công CNC tại nhiều trường được đưa vào doanh nghiệp thực tập 8 tháng. Nguyễn Tiến Hùng (Công ty TNHH Smart Tech Vina) chia sẻ: Được trực tiếp lập trình, đứng máy, chạy sản phẩm, chạm tay vào hàng hóa từ đầu đến cuối giúp em hiểu nghề nhanh. Kiến thức ở trường nếu không gắn với thực tế thì khó nhớ”.
Dạy điều xã hội cần
Bắc Ninh là một trong những trung tâm công nghiệp năng động nhất cả nước với 5,5 tỷ USD vốn FDI năm 2025, gần 3.400 dự án, thu hút khoảng 830.000 lao động. Nhưng nghịch lý là doanh nghiệp vẫn thiếu người lao động có tay nghề. Theo tính toán, đến năm 2030 địa phương cần khoảng 1 triệu lao động đã qua đào tạo, trong khi hiện mới đáp ứng gần 70%. Đây cũng là thách thức chung của nhiều tỉnh công nghiệp.
TS Vũ Quang Khuê - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh khẳng định, Đảng xác định phát triển nguồn nhân lực qua các chính sách trọng tâm để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Do đó, việc thúc đẩy đào tạo nhân lực trình độ kỹ thuật viên sẽ thúc đẩy năng suất lao động. Sinh viên được đào tạo 2,5-3 năm, gắn chặt với doanh nghiệp, khi ra trường làm việc sẽ đem hiệu quả lớn, năng suất cao.
Theo TS Vũ Quang Khuê, hầu hết chương trình đào tạo có doanh nghiệp tham gia xây dựng chuẩn kỹ năng, sinh viên thường xuyên học tập ngay tại nhà máy, nhờ đó, người học bắt nhịp nhanh với công nghệ mới.
Thực tế cho thấy, lao động có chứng chỉ nghề làm nhanh, chính xác hơn, dễ thích ứng với tự động hóa và chuyển đổi số. Ông Nguyễn Bá Thuấn - Quản đốc Công ty CP Hawee nhìn nhận: “Máy móc ngày càng hiện đại, vị trí nào cũng cần kiến thức nền. Doanh nghiệp buộc phải dùng lao động đã qua đào tạo”.
Triết lý giáo dục định hướng thị trường được nhấn mạnh trong Đại hội XIV đang trở thành kim chỉ nam. Đào tạo phải xuất phát từ nhu cầu thật của nền kinh tế, chấm dứt tình trạng lệch pha cung – cầu lao động. PGS.TS Nguyễn Tiến Đông - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lý Thái Tổ (tỉnh Bắc Ninh) cho rằng cần thêm những chính sách đủ mạnh để khuyến khích người dân học nghề, mở rộng chương trình ngắn hạn và đào tạo lại cho lực lượng đang làm việc.
Bắc Ninh đã ban hành Nghị quyết 113 của HĐND tỉnh hỗ trợ toàn diện cho người học, kể cả trường tư thục; ưu tiên các ngành mũi nhọn như bán dẫn, logistics, công nghệ chính xác cao; đồng thời hỗ trợ giảng viên và hợp tác quốc tế. Nhà trường đẩy mạnh đào tạo ngoại ngữ Trung - Nhật - Hàn, tổ chức cho sinh viên trải nghiệm 3 - 6 tháng ở nước ngoài.
Theo ông Đông, doanh nghiệp đang vận hành dựa trên ba trụ cột: Quy trình - Công nghệ - Con người. Sinh viên phải hiểu quản lý sản xuất, giảm lãng phí, áp dụng Kaizen để tăng năng suất.
Sở KH&CN Bắc Ninh cũng dự kiến mở 12 lớp đào tạo kiến thức quản lý công nghiệp cho sinh viên và người lao động. Tuy nhiên, liên kết doanh nghiệp - nhà trường còn “điểm nghẽn”: Doanh nghiệp FDI chưa cởi mở chia sẻ dữ liệu; doanh nghiệp trong nước hạn chế chi trả cho thực tập; quỹ đào tạo doanh nghiệp thiếu hướng dẫn cụ thể.
TS Vũ Quang Khuê cho rằng Luật Giáo dục nghề nghiệp sửa đổi là bước tiến quan trọng khi coi doanh nghiệp như chủ thể đào tạo, chú trọng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Mô hình trung học nghề 9+ giúp phân luồng sớm, rút ngắn thời gian đào tạo. Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh đã hợp tác với hơn 60 doanh nghiệp, ký MOU với 42 đơn vị. Sinh viên trước khi tốt nghiệp 3 tháng đã được đặt vấn đề tuyển dụng, chỉ chờ cầm bằng là đi làm.
Từ thực tiễn các địa phương và ý kiến của chuyên gia, giới chuyên môn cho rằng, có thể nhận diện những giải pháp mang tính căn cơ, gồm: Thể chế hóa liên kết ba nhà là Nhà nước - Nhà trường – Nhà doanh nghiệp trong xây dựng chương trình, đánh giá kỹ năng và tuyển dụng; Đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia cho hiện đại hóa giáo dục nghề, ưu tiên bán dẫn, tự động hóa, logistics, năng lượng xanh; Mở rộng đào tạo lại và cấp chứng chỉ cho lao động đang làm việc, kênh tăng nhanh nhất tỷ lệ có bằng cấp; Chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, gắn đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng số; Cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo, đặc biệt hỗ trợ thực tập; Đẩy mạnh phân luồng sau THCS, phát triển mô hình trung học nghề; Hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực theo ngành – vùng, gắn với chuyển đổi số.