Chuyện học xưa & nay:

Vị đại khoa đầu tiên và cuối cùng được khắc tên trên bia đá Văn miếu Huế

GD&TĐ - Nếu như Tiến sĩ Nguyễn Ý là người đầu tiên được khắc tên trên bia đề danh tại Văn miếu Huế, thì Tiến sĩ Dương Thiệu Tường lại là người cuối cùng có tên trên tấm bia khoa bảng của triều Nguyễn.

Lăng mộ danh nhân Dương Lâm – ông nội Tiến sĩ Dương Thiệu Tường.
Lăng mộ danh nhân Dương Lâm – ông nội Tiến sĩ Dương Thiệu Tường.

Cách nhau gần 100 năm, từ tấm bia đề danh Tiến sĩ đầu tiên (1822) đến tấm bia cuối cùng (1919) của triều đại, câu chuyện về hai vị đại khoa được khắc tên trên bảng vàng bia đá mãi là tấm gương về đạo học. Dù triều đại có qua đi, sự học của các vị Tiến sĩ vẫn còn mãi và không chỉ hiển hiện trên bia đá tiền nhân khắc tạc, mà còn lưu danh trong sử sách cùng những giai thoại truyền khẩu.

Đình nguyên đầu tiên của nhà Nguyễn

Nguyễn Ý (sinh năm 1796), người thôn Thị xã Vân La, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay là thôn Vân La, xã Hồng Vân, Hà Nội). Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học, thân phụ là cụ Nguyễn Cuông.

Theo giai thoại dân gian, Nguyễn Ý từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng, đọc đâu hiểu đấy, học một biết mười, lại giỏi văn chương ứng đáp nên sớm được người trong vùng biết đến. Năm 1821, Nguyễn Ý đỗ Cử nhân và ngay trong năm sau, ông từ biệt cha mẹ, vợ và 3 con thơ để vào Huế dự thi Hội, thi Đình.

Kỳ thi Hội diễn ra vào tháng 4/1822, là khoa thi Hội đầu tiên của triều Nguyễn được tổ chức, đánh dấu sự hoàn thiện hệ thống khoa cử Nho học, chuyển từ thi Hương (đời Gia Long) sang tổ chức thi Hội, thi Đình tại kinh đô để lấy Tiến sĩ. Vì là khoa thi quan trọng nên vua Minh Mạng ban dụ rằng: “Khoa thi Hội này là khoa đầu tiên, là điển lễ quan trọng, các ngươi nên rất mực công bằng, đừng phụ lời khuyên bảo của trẫm”.

Tại khoa thi này, Nguyễn Ý đỗ đầu và nhận học vị Hoàng giáp Tiến sĩ. Sau đó vào thi Đình, đề thi do nhà vua trực tiếp ra câu hỏi và chấm thi tại điện Cần Chính và Nguyễn Ý tiếp tục đỗ đầu nên được gọi là Đình nguyên Hoàng giáp.

Kỳ thi Đình của nhà Nguyễn không chia thứ bậc, chỉ xếp theo thứ tự, ai đỗ cao hơn được xếp trên. Vì thế, trên tấm bia đầu tiên thuộc hàng đầu trong Văn miếu Huế có khắc tên 8 vị Tiến sĩ đỗ kỳ thi Đình năm 1822, tên của Tiến sĩ Nguyễn Ý được khắc ở trên cùng.

Bên dưới là tên 7 đại khoa khác, gồm: Lê Tông Quang, Phan Hữu Tính, Hà Tông Quyền, Đinh Văn Phác, Vũ Đức Khuê, Phan Bá Đạt và Trần Lê Hiệu. Từ danh sách và thứ bậc khắc trên bia, có thể khẳng định Nguyễn Ý cũng là vị Tiến sĩ đầu tiên được khắc tên trên bia đá Văn miếu Huế.

Trong bài văn sách thi của mình, khi bàn về đạo trị nước, Tiến sĩ Nguyễn Ý cho rằng: “Trị dân không gì trước hơn việc dạy học, trị nước không gì quan trọng hơn nhân tài, tìm khắp hỏi rộng, thu nhận rộng, bồi dưỡng khắp, làm thế nào để có thể khiến cho chia mưu, chung nghĩ, sáng rõ công việc để đưa đến hiệu quả vô vi”.

vi-dai-khoa-dau-tien-va-cuoi-cung-duoc-khac-ten-tren-bia-da-van-mieu-hue-1.png
Chân dung Tiến sĩ Dương Thiệu Tường.

Tiến sĩ Nguyễn Ý cũng đã đưa ra ý tưởng của mình để xây dựng đội ngũ hiền tài cho xã hội, theo ông cần phải đào tạo từng bước để hình thành nên đội ngũ hiền tài cho đất nước sử dụng. “Ngày dầm tháng thấm, phả vào mắt, rót vào tai, có thể đạt hiệu quả “sau một đời sẽ có nhân”. Cho rằng, trị nước không gì quan trọng bằng nhân tài, mừng thánh triều để thực sự được người, nhưng mong chia mưu cùng lo, làm sáng tỏ công việc, ắt giữ chức đều là quân tử”.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Ý thì hiền tài quả thực như những vật báu trên đời. Theo ông nhân tài “như châu ở biển, ngọc trong núi tìm rất khó khăn, bồi dưỡng hết mức mới thu vét được ẩn sót. Vì thế cổ nhân mới có nỗi lo thiếu nhân tài vậy. Vâng điều thánh thu vét hiền tài, chọn lựa thu khắp, không để sót cỏ chỉ ở khi, hoa lan trong núi. Đường cầu hiền đã rộng, nhưng các sĩ tỏ rõ ở đức thường tự sẽ thu hút vào triều đình “người chín đức đều được làm việc”. Với người xưa thì khó ở được người, mà ngày nay được khắp thì lại không khó vậy”.

Theo các tư liệu của dòng họ, Đình nguyên Nguyễn Ý làm quan được ít năm thì mất và được chôn cất tại kinh đô Huế. Ở quê nhà Vân La, con cháu lập nhà thờ họ từ đời cha Nguyễn Ý là Nguyễn Cuông. Thời trẻ, Nguyễn Ý có nhiều bạn đồng môn. Họ đã viết đôi câu đối về ông ở hai bên cột hiên nhà thờ: “Văn chương tiêu nhất giáp/ Khoa đệ vĩ đồng châu” (Văn chương giỏi nhất vùng/ Bao la như châu thổ).

vi-dai-khoa-dau-tien-va-cuoi-cung-duoc-khac-ten-tren-bia-da-van-mieu-hue-3.jpg
Tượng Đình nguyên Tiến sĩ Nguyễn Ý tại Văn từ Thượng Phúc.

Người “khóa sổ” khoa cử triều Nguyễn

Nếu như Nguyễn Ý là người đỗ đầu và được chọn để khắc tên hàng đầu tiên tại tấm bia đề danh đầu tiên của triều Nguyễn, thì Tiến sĩ Dương Thiệu Tường lại là người đỗ cuối cùng ở kỳ thi cuối cùng, và tên được khắc hàng cuối trong tấm bia cuối cùng của triều đại.

Nhắc đến dòng họ Dương làng Vân Đình, người nay thường nghĩ ngay đến hai anh em danh nhân nổi tiếng là Dương Khuê và Dương Lâm. Không chỉ được biết đến là những vị quan thanh liêm, công minh, hai ông còn để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa.

Trải qua nhiều thế hệ, con cháu họ Dương tiếp tục nối nhau đảm nhiệm các chức vụ quan trọng trong triều đình, tạo dựng danh tiếng như một dòng họ khoa bảng tiêu biểu. Theo gia phả và lời kể của các bậc cao niên, họ Dương chi Ất Hạ có nguồn gốc từ Nghệ An, sau đó lưu lạc ra Vân Đình sinh sống. Thuở ban đầu, cuộc sống của dòng họ khá cơ cực.

Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, cụ sinh đồ Dương Đức Thắng phải lên chùa viết sớ thuê để mưu sinh. Sau khi cụ qua đời một năm, một vị thiền sư lạ tìm đến, đề nghị giúp gia đình chọn đất cải táng. Khi được hỏi muốn “đất giàu có” hay “đất phát khoa danh”, gia đình đã chọn con đường học hành, mong con cháu đỗ đạt.

Do nghèo khó, việc cải táng được tiến hành âm thầm vào ban đêm. Hài cốt được đặt trong một nồi đất rồi chôn tại khu đất gần đường vào phủ lỵ. Trước khi rời đi, vị thiền sư để lại lời sấm truyền về sự hưng thịnh khoa bảng của dòng họ, song không tiết lộ danh tính.

Điều kỳ lạ là, chỉ sau một thời gian, khu đất quanh mộ tổ trở nên quang đãng đúng như lời vị thiền sư nói. Từ đó, dòng họ Dương bắt đầu “phát khoa danh”. Lịch sử sau này đã chứng nghiệm khi cụ Đức Ứng giữ chức Hàn lâm viện thị giảng học sĩ, hai anh em Dương Khuê và Dương Lâm đều làm tới chức Thượng thư, các thế hệ kế tiếp tiếp tục đỗ đạt với nhiều Tiến sĩ, Cử nhân.

vi-dai-khoa-dau-tien-va-cuoi-cung-duoc-khac-ten-tren-bia-da-van-mieu-hue-2.jpg
Triều Nguyễn tổ chức 39 khoa thi (1822 - 1919), lấy đỗ 558 đại khoa, trong đó Nguyễn Ý là Tiến sĩ đầu tiên và Dương Thiệu Tường là Tiến sĩ cuối cùng được khắc tên.

Theo tư liệu lịch sử, Dương Thiệu Tường sinh năm 1895 tại xã Vân Đình, tổng Phương Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là xã Vân Đình, Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình có truyền thống khoa bảng nổi tiếng đương thời, Dương Thiệu Tường chính là cháu nội của danh sĩ Dương Lâm và là con trai của Cử nhân Dương Tự Phan.

Năm 1915 (Duy Tân thứ 9), Dương Thiệu Tường đỗ Cử nhân tại kỳ thi Hương tổ chức ở Hà Nam. Đến năm 1919 (Khải Định thứ 4), ông dự thi Hội. Kỳ thi này, thí sinh chỉ cần mang theo giấy bút để làm bài. Ít nhất 3 tuần trước khi thi, thí sinh được thông báo về mẫu quyển thi. Trong quyển thi, thí sinh ghi đầy đủ thông tin họ tên, bằng cấp, nghề nghiệp, tuổi, nguyên quán, dòng dõi 3 đời. Quyển thi nộp lên Bộ Học để chuyển cho ban giám khảo.

Khoa thi này, ngoài giám khảo người Việt còn có một giám khảo người Pháp do Khâm sứ Trung Kỳ chỉ định. Ngày 4/4/1919, thí sinh bắt đầu vào thi. Thí sinh thi 4 trường, mỗi trường cách nhau một tuần. Trường nhất thi 5 bài Văn sách về các sách Ngũ kinh, Tứ thư, Việt sử, Thời vụ và Lịch sử phương Tây.

Trường nhì thi 3 bài Từ Hàn, gồm một chiếu hoặc dụ, một tấu hoặc sớ, một biểu. Trường tam thi 3 bài luận bằng chữ quốc ngữ gồm một bài về hành chính, một bài về thời vụ và một bài về luật lệ cộng thêm hai bài toán hình. Trường tứ thi 3 bài luận tiếng Pháp, gồm bài dịch từ tiếng Pháp sang chữ Hán, bài dịch từ chữ quốc ngữ sang tiếng Pháp và một bài chính tả tiếng Pháp. Bắt đầu thi lúc 6 giờ sáng và kết thúc lúc 6 giờ tối.

Giám khảo người Việt ra đề cho các bài chữ Hán và quốc ngữ. Các bài tiếng Pháp do Khâm sứ Trung Kỳ lựa chọn và gửi cho giám khảo trong phong bì đã niêm phong. Bài thi được chấm điểm từ 0 đến 20. Điểm đạt trung bình là 10. Hết 4 trường sẽ cộng dồn để tính điểm. Mọi thí sinh được 40 điểm cho 4 trường thi sẽ được vào thi Đình. Ban giám khảo lấy riêng các bài thi được điểm cao rồi trình lên Bộ Học để Bộ trình nhà vua. Ngày 23/4/1919 công bố tên những người được dự thi Đình.

vi-dai-khoa-dau-tien-va-cuoi-cung-duoc-khac-ten-tren-bia-da-van-mieu-hue-4.jpg
Nhà bia Tiến sĩ Nguyễn Ý trước đình tổng Vân La.

Tiếp nối dòng dõi khoa bảng

Theo ghi chép, dù bài thi của Dương Thiệu Tường bị đánh hỏng (truất quyển thi), nhưng do đây là khoa thi Hội cuối cùng của chế độ khoa cử Việt Nam nên ông được đặc cách vào thi Đình. Kết quả, Dương Thiệu Tường đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân - một kết quả đáng chú ý trong bối cảnh nền học vấn Nho học đi đến hồi kết.

Theo bản dịch của Viện nghiên cứu Hán Nôm, văn bia đề danh Tiến sĩ khoa thi cuối cùng có 7 người đỗ. Đứng đầu là Nguyễn Phong Di, tiếp theo là Trịnh Hữu Thăng, Lê Văn Kỷ, Nguyễn Cao Tiêu, Bùi Hữu Hưu, Vũ Khắc Triển, và cuối cùng là Dương Thiệu Tường.

Tấm bia này được khắc vào ngày mồng 7 tháng 7 niên hiệu Khải Định năm thứ 4 (1919). Tên của Tiến sĩ Dương Thiệu Tường cũng là tên vị đại khoa cuối cùng được khắc trên bia đá, kết thúc khoa bảng Nho học đã tồn tại ở Việt Nam suốt 9 thế kỷ.

Sau khi ra làm quan, Tiến sĩ Dương Thiệu Tường khởi đầu với chức thừa phái tại Cơ mật viện, rồi lần lượt được bổ nhiệm làm Tri phủ Bình Giang, Tri phủ Ninh Giang (1927) và Tri phủ Kiến Xương (1931). Từ đây, sự nghiệp của ông tiếp tục thăng tiến.

Năm 1932, ông giữ chức Bố chính xứ Thái Bình hạng hai, sau đó lên hạng nhất; tiếp đến được bổ nhiệm làm Tuần phủ Quảng Yên rồi Tuần phủ Vĩnh Yên (1938), và được nâng lên hạng nhất vào năm 1940. Đầu năm 1942, ông được cử làm Tổng đốc Hưng Yên, nhanh chóng thăng lên hạng nhất. Đến tháng 3 năm 1944, ông giữ chức Tổng đốc Hải Dương - một trong những vị trí quan trọng trong hệ thống hành chính đương thời.

Nối mạch truyền thống khoa bảng của dòng tộc, em trai Dương Thiệu Tường là Dương Thiệu Chi cũng là một nhà nho nổi danh từng thi đỗ tham tá hạng hai ngành hộ tịch, được bổ nhiệm làm Tri huyện, phong hàm Biên tu, sau làm đến chức Thương tá Nam Định.

Con cháu Tiến sĩ Dương Thiệu Tường cũng trở thành những nhà trí thức có tiếng. Trong số đó, phải kể đến GS Dương Hồng Hiên chuyên ngành nông nghiệp, GS.TS Dương Thiệu Tống (Đại học Sư phạm TPHCM), GS Dương Thiệu Lễ, GS.TS Dương Nghiệp Chí, GS.TS Dương Hồng Chương…

Đình nguyên Hoàng giáp Nguyễn Ý làm quan đến chức Biên tu, phụ trách Hàn lâm viện, ghi chép, biên tập, xuất bản văn thơ, lịch sử... Sau 3 năm nhận chức vụ, ông qua đời do bệnh trọng. Còn Tiến sĩ Dương Thiệu Tường, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã từ bỏ chức vụ trong bộ máy triều đình nhà Nguyễn. Năm 1946, ông tham gia chính quyền mới với vai trò Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Đông của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ

Sinh viên ngành Công nghệ ô tô, Trường Cao đẳng Bách khoa Bách Việt tham quan hệ thống xưởng của doanh nghiệp, tháng 3/2026. Ảnh: Bách Việt

Học tập trải nghiệm - xu hướng đào tạo mới

GD&TĐ - Học tập trải nghiệm đang trở thành xu hướng quan trọng trong giáo dục đại học, khi người học không chỉ tiếp nhận tri thức qua bài giảng, mà còn trực tiếp thực hành, giải quyết vấn đề thực tiễn và tương tác với môi trường nghề nghiệp.