'Trái tim' của công nghệ cao và giải bài toán nguồn nhân lực ngành Vật lý kỹ thuật

GD&TĐ - Trong cuộc đua làm chủ các công nghệ chiến lược như bán dẫn, vi mạch, vật liệu mới, Vật lý kỹ thuật là ngành học “nền móng của mọi nền móng”.

Học sinh các trường THCS ở Đà Nẵng trải nghiệm hoạt động STEM tại khoa Lý - Hóa, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.
Học sinh các trường THCS ở Đà Nẵng trải nghiệm hoạt động STEM tại khoa Lý - Hóa, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.

Tuy nhiên, để thu hút nhân tài vào lĩnh vực khắt khe này, cần những giải pháp đột phá từ chính sách đến sự thay đổi trong tư duy của người học lẫn xã hội.

“Nền móng” của những ngành công nghệ tỷ đô

Tại Khoa Vật lý - Hóa học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, ngành Vật lý kỹ thuật đang giữ một vị trí đặc biệt trong hệ sinh thái đào tạo. Đây không đơn thuần là một ngành khoa học thuần túy mà là cầu nối then chốt đưa các nguyên lý vật lý vào ứng dụng thực tiễn trong công nghiệp chất lượng cao.

Thực tế, Vật lý kỹ thuật là ngành có vai trò nền móng đối với hàng loạt lĩnh vực “nóng” nhất hiện nay như: vật liệu mới, bán dẫn, vi mạch, cảm biến và năng lượng tái tạo. Nếu ví ngành sản xuất chip hay robot là phần ngọn của một cái cây công nghệ, thì Vật lý kỹ thuật chính là bộ rễ cung cấp những hiểu biết sâu sắc về thiết bị đo lường, thiết bị y sinh và tự động hóa. Tuy nhiên, một nghịch lý đang tồn tại: dù cơ hội nghề nghiệp vô cùng rộng mở trong bối cảnh đất nước ưu tiên phát triển kinh tế theo chiều sâu, nhưng ngành học này vẫn chưa thực sự thu hút được nhiều học sinh giỏi và xuất sắc.

ly-hoa.jpg
Seminar khoa học trong chương trình làm việc giữa Khoa Lý - Hóa, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng cùng đoàn giáo sư từ Đại học Quốc gia Chungnam, Hàn Quốc.

Chia sẻ về tầm quan trọng của ngành học này, TS Nguyễn Quý Tuấn, Trưởng khoa Vật lý - Hóa học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng trăn trở: Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các ngành kỹ thuật then chốt là mục tiêu sống còn. Nếu không có đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản trong lĩnh vực Vật lý kỹ thuật, rất khó để phát triển bền vững các ngành công nghệ chiến lược theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Chính trị”.

Mặc dù Khoa Lý - Hóa của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng có đội ngũ giảng viên trình độ cao với gần 80% tiến sĩ và cơ sở vật chất rất hiện đại, nhưng theo như TS Nguyễn Quý Tuấn nhận xét, vẫn gặp khó khăn trong tuyển sinh như tình trạng chung của các ngành khoa học cơ bản và kỹ thuật nền tảng.

Một phần nguyên nhân khó tuyển đến từ tâm lý người học còn e ngại các ngành “khó”, đòi hỏi nền tảng toán học, vật lý, hóa học và tư duy công nghệ vững chắc. Bên cạnh đó, mặc dù cơ hội nghề nghiệp của các ngành này rất rộng mở trong bối cảnh đất nước ưu tiên phát triển theo chiều sâu như hiện nay nhưng chưa thu hút được các học sinh giỏi, xuất sắc. Điều này một phần là do truyền thông về ngành nghề, cơ hội nghề nghiệp chưa đầy đủ, khiến học sinh và phụ huynh chưa nhìn thấy hết triển vọng lâu dài.

Giải bài toán “ngành khó, nghề then chốt”

Để hóa giải những rào cản tâm lý và khơi dậy đam mê khoa học, việc Nhà nước ban hành những chính sách hỗ trợ tài chính đặc thù được ví như một “cú hích” lịch sử. Nghị định số 179/2026/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách học bổng cho người học các ngành này không chỉ là một chính sách hỗ trợ tài chính, mà còn là thông điệp mạnh mẽ về sự quan tâm của Nhà nước đối với thế hệ trẻ theo đuổi những lĩnh vực nền tảng, khó học nhưng rất cần thiết cho tương lai quốc gia.

khoa-ly-hoa-nganh-vat-ly-ky-thuat.jpg
Sinh viên đến từ Udon Thani University (Thái Lan) trong chương trình “Tham gia học 1 tiết học của sinh viên Khoa Lý - Hóa” tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.

Theo Trưởng khoa Lý - Hóa, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, điểm mới và ưu việt của Nghị định 179/2026/NĐ-CP là chính sách học bổng được thiết kế có trọng tâm, hướng đến người học ở các ngành mà quốc gia đang cần ưu tiên phát triển.

Chính sách không chỉ áp dụng cho bậc đại học mà còn mở rộng đến thạc sĩ và tiến sĩ, qua đó tạo thành một chuỗi hỗ trợ đào tạo nhân lực chất lượng cao từ cử nhân, kỹ sư đến nhà khoa học, chuyên gia. Việc quy định mức học bổng cụ thể, gắn với kết quả học tập, rèn luyện và nghiên cứu cũng giúp chính sách có tính khuyến khích thực chất, tránh dàn trải, đồng thời tạo động lực để người học duy trì tinh thần phấn đấu lâu dài.

Có thể ví Nghị định 179/2026/NĐ-CP như một chính sách mang ý nghĩa tương tự Nghị định 116/2020/NĐ-CP đối với sinh viên sư phạm. Nếu Nghị định 116 thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt cho sinh viên sư phạm, nhằm thu hút người học vào lĩnh vực đào tạo giáo viên, thì Nghị định 179 mở rộng tinh thần đó sang các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.

Điểm chung của hai chính sách là Nhà nước không chỉ hỗ trợ người học về tài chính, mà còn định hướng xã hội lựa chọn những ngành học có vai trò nền tảng đối với sự phát triển lâu dài của đất nước. Tuy nhiên, Nghị định 179 có phạm vi tác động rộng hơn trong chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bởi chính sách này hướng đến đào tạo nguồn nhân lực cho các lĩnh vực như khoa học vật chất, bán dẫn, vật liệu, năng lượng, môi trường, công nghệ thông tin và các ngành kỹ thuật nền tảng.

ly-ky-thuat.jpg
Chương trình học tập trải nghiệm của học sinh THCS thành phố Đà Nẵng tại Khoa Lý - Hóa, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng.

Để Nghị định đi vào cuộc sống, theo TS Nguyễn Quý Tuấn, vai trò của Bộ GD&ĐT hết sức quan trọng. Để xác định đúng đối tượng quy định tại điểm b, Khoản 3, Điều 5 của Nghị định, Bộ cần sớm ban hành danh mục ngành, chương trình đào tạo được hưởng chính sách; hướng dẫn tiêu chí xét chọn; xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ xét học bổng. Đồng thời, Bộ cần có cơ chế kiểm tra, giám sát việc triển khai tại các cơ sở giáo dục đại học. Đây là điều kiện cần để bảo đảm chính sách được thực hiện công khai, minh bạch, đúng đối tượng và tạo được niềm tin cho người học.

Ở góc độ của Khoa, TS Nguyễn Quý Tuấn chia sẻ: Nghị định 179/2026/NĐ-CP mở ra cơ hội lớn trong công tác tuyển sinh, đào tạo và phát triển ngành. Khoa cần chủ động rà soát chương trình đào tạo ngành Vật lý kỹ thuật và Hóa học theo các nhóm ngành được ưu tiên; đẩy mạnh truyền thông tuyển sinh theo hướng làm rõ cơ hội nghề nghiệp; tăng cường kết nối doanh nghiệp, viện nghiên cứu; phát triển các hướng chuyên sâu về vật liệu, bán dẫn, năng lượng, môi trường và công nghệ chiến lược.

Cùng với đó, nhà trường cần đầu tư phòng thí nghiệm, học liệu, đội ngũ giảng viên và môi trường nghiên cứu để người học không chỉ nhận được học bổng, mà còn được học tập trong một hệ sinh thái học thuật tốt.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ