Sáng 10/4, trong khuôn khổ kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn đã có nhiều ý kiến đóng góp đối với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030.
Phát biểu của Bộ trưởng làm rõ, nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, cũng như đầu tư cho lĩnh vực này trong giai đoạn tới, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu tăng trưởng hai con số của đất nước.
2 nguồn thu hút nhân tài
Đề cập trước hết đến phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Bộ trưởng khẳng định, yếu tố quyết định chính là con người, đặc biệt là nguồn nhân lực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nếu thiếu đội ngũ nhân lực chất lượng, việc đầu tư lớn có thể trở nên kém hiệu quả: mua sắm không phù hợp, ít được sử dụng hoặc không tạo ra giá trị. Nhiều nhiệm vụ, đề tài dù được đầu tư nhưng nếu thiếu con người đủ năng lực thì cũng không đạt kết quả, kết quả không có tác động thực tiễn.
Thực tiễn cho thấy, những quốc gia có nền khoa học công nghệ tiên tiến đều là nơi thu hút và phát triển mạnh mẽ đội ngũ nhân tài. Trong đó, nhân tài khoa học công nghệ giữ vai trò quan trọng nhất, mang tính quyết định.
Vậy nhân tài khoa học công nghệ đến từ đâu? Trả lời câu hỏi này, Bộ trưởng cho rằng, có hai nguồn chính.
Trước hết, nguồn nhanh và hiệu quả nhất là thu hút các chuyên gia, nhà khoa học từ nước ngoài, đặc biệt là người Việt Nam ở nước ngoài. Nội dung này đã được nêu rõ trong Kết luận 18 và Nghị quyết 71.
Hiện nay, chúng ta có một lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài đông đảo, được đào tạo bài bản và tham gia trực tiếp vào hoạt động khoa học công nghệ tại các trường đại học và tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới. Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang xuất hiện xu hướng dịch chuyển lực lượng trí thức, đây là cơ hội để Việt Nam thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trở về.
Bộ trưởng đề nghị nội dung này cần được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Quốc hội về phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn tới nhằm bảo đảm tính định hướng và hiệu quả thực hiện.
Thứ hai là nguồn nhân lực đến từ đào tạo và phát triển trong nước. Theo Bộ trưởng, cần chú trọng thu hút những người giỏi ở nhiều lĩnh vực tham gia nghiên cứu, trong đó môi trường hiệu quả nhất là các cơ sở giáo dục đại học. Các cơ sở giáo dục đại học vừa thực hiện nghiên cứu phát triển, vừa đào tạo nguồn nhân lực kế cận, vì vậy chính sách thu hút mạnh mẽ là đặc biệt quan trọng.
Bộ GD&ĐT đã tham mưu xây dựng đề án phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và khoa học cơ bản. Những lĩnh vực này không chỉ phục vụ công nghiệp mà còn có vai trò quan trọng trong nông nghiệp, thủy sản và nhiều lĩnh vực khác.
Đồng thời, Bộ đã hoàn tất dự thảo Nghị định về học bổng cho sinh viên và nghiên cứu sinh trong các ngành này. Đây được kỳ vọng là một chính sách mang tính đột phá, góp phần thu hút học sinh giỏi theo học, đồng thời tăng cường đội ngũ nghiên cứu sinh.
Bộ trưởng chia sẻ, hiện có nhiều chính sách khoa học công nghệ nhằm hỗ trợ nghiên cứu sinh. Tuy nhiên, cơ chế học bổng này có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành đội ngũ nghiên cứu sinh và tiến sĩ theo học toàn thời gian trong các ngành trọng điểm, từ đó tạo nền tảng phát triển đội ngũ nhà khoa học...
Trước mắt, chính sách này có thể đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các tập đoàn công nghệ lớn khi đầu tư vào Việt Nam. Về lâu dài, mục tiêu quan trọng hơn là xây dựng đội ngũ nhân lực trình độ cao, có năng lực nghiên cứu và phát triển, không chỉ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp mà còn giúp đất nước tự chủ công nghệ, làm chủ và phát triển các công nghệ lõi trong nhiều lĩnh vực.
Chú trọng phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao
Ngoài nhân lực khoa học công nghệ được đào tạo từ bậc đại học, Bộ trưởng cũng đặc biệt nhấn mạnh việc chú trọng phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao. Trong giai đoạn tới, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, yêu cầu đối với vị trí việc làm sẽ thay đổi nhanh chóng, kéo theo sự thay đổi lớn về kỹ năng nghề.
Vì vậy, nhu cầu đào tạo lại, đào tạo chuyển đổi và bổ sung kỹ năng cho người lao động trở nên hết sức cấp thiết, nhằm hình thành lực lượng lao động có kỹ năng nghề và kỹ năng nghề cao, đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Trong Kết luận 18, Bộ GD&ĐT được giao xây dựng chương trình đào tạo và tái đào tạo lực lượng lao động. Bộ trưởng cho rằng, đây cũng là một giải pháp đột phá quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số. Bởi lẽ, nếu không có lực lượng lao động có kỹ năng nghề cao thì khó có thể thu hút đầu tư và nâng cao năng suất lao động. Điều này cũng đã được nhiều báo cáo quốc tế khẳng định.
Bộ GD&ĐT đã tham mưu để Quốc hội ban hành Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), trong đó quy định về trường trung học nghề, trường trung cấp, trường cao đẳng rất rõ ràng, đồng thời có chương trình mục tiêu quốc gia dành cho lĩnh vực này. Tuy nhiên, nguồn lực từ chương trình mục tiêu vẫn còn hạn chế, đặc biệt là kinh phí từ Trung ương.
Bên cạnh đó, nhiều cơ sở giáo dục ngoài phạm vi chương trình này vẫn chưa được thụ hưởng nguồn lực. Vì vậy, nếu muốn đạt được tăng trưởng hai con số, cần tăng cường đầu tư mạnh mẽ cho hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, không chỉ thông qua đổi mới chương trình, mô hình đào tạo của Bộ, mà còn cần sự đầu tư từ Nhà nước và xã hội, trong đó có vai trò quan trọng của ngân sách Trung ương và địa phương.
Nền tảng quan trọng nhất vẫn là giáo dục phổ thông
Vấn đề thứ 3 Bộ trưởng trao đổi là về giáo dục phổ thông. Ông nhấn mạnh, để có nguồn nhân lực chất lượng cao ở bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp, nền tảng quan trọng nhất vẫn là giáo dục phổ thông.
Trước hết, cần nhìn ở góc độ quy mô, tỷ lệ đi học phổ thông và số năm đi học trung bình của người dân vẫn còn thấp. Trên thế giới, có thể thấy rõ rằng muốn vượt qua mức thu nhập trung bình thì số năm đi học trung bình của người dân phải cao.
Trích dẫn các nghiên cứu và thống kê quốc tế, Bộ trưởng cho biết số năm đi học trung bình của người dân có mối quan hệ chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế. Có nghiên cứu thống kê chỉ ra, nếu tăng thêm 1 năm học trung bình của người dân thì có thể đóng góp khoảng 3-6% vào GDP. Ở cấp độ cá nhân, mỗi năm học thêm cũng giúp thu nhập tăng trung bình khoảng 8-10%.
Từ đó, Bộ trưởng nhấn mạnh, việc phổ cập giáo dục phổ thông và cấp học tương đương là trung học nghề, là yêu cầu hết sức cấp thiết. Đây không chỉ là vấn đề xã hội hay bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, mà còn là vấn đề mang tính phát triển.
Vì vậy, mục tiêu rất cụ thể trong thời gian tới, đặc biệt trong 5 năm tới, là phải bảo đảm mọi người dân có nhu cầu học tập phải được học, ít nhất hoàn thành trung học phổ thông hoặc tương đương. Đây là yêu cầu quan trọng để nhanh chóng hình thành lực lượng lao động có trình độ, qua đó nâng cao năng suất lao động.
Bộ trưởng đề nghị trong các nội dung về đầu tư công, cần nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm đủ trường lớp và đội ngũ giáo viên cho giáo dục phổ thông và tương đương. Nghị quyết về đầu tư công cần quy định rõ việc ưu tiên đầu tư để đáp ứng đầy đủ trường lớp cho giáo dục phổ thông. Đây là trách nhiệm của cả Trung ương và đặc biệt là các địa phương.
Mặc dù Chính phủ đã đầu tư xây dựng 229 trường phổ thông liên cấp nội trú tại các tỉnh biên giới; song tại các đô thị lớn như Hà Nội, TPHCM và các khu công nghiệp, tình trạng thiếu trường lớp vẫn diễn ra. Điều này gây lãng phí lớn nguồn lực con người khi chưa tạo điều kiện để học sinh được học tập đầy đủ và đóng góp cho nền kinh tế.
Do đó, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục trước hết vẫn là bảo đảm đầy đủ trường lớp. Sau đó, từng bước đầu tư, hoàn thiện các điều kiện giáo dục toàn diện.
“Trong giai đoạn trước mắt, việc bảo đảm đủ trường lớp và đủ phòng học chức năng cũng đã là một nỗ lực rất lớn, tạo ra sự thay đổi đáng kể về quy mô cũng như chất lượng giáo dục phổ thông, qua đó làm nền tảng cho phát triển giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp”, Bộ trưởng chia sẻ.