PGS.TS Nguyễn Hồng Vinh và cuốn sách mới tri ân với Đảng, với đời

GD&TĐ - Thiếu tướng, nhà văn Nguyễn Hồng Thái đã có những chia sẻ sâu sắc, thấm đượm về cuốn sách mới tri ân với Đảng, với đời của PGS.TS Nguyễn Hồng Vinh.

TBT Tô Lâm, Nhà báo Hồng Vinh và các đại biểu trong Lễ ra mắt trang thông tin đặc biệt của Báo Nhân Dân về Đảng Cộng sản Việt Nam. (Ảnh do tác giả cung cấp).
TBT Tô Lâm, Nhà báo Hồng Vinh và các đại biểu trong Lễ ra mắt trang thông tin đặc biệt của Báo Nhân Dân về Đảng Cộng sản Việt Nam. (Ảnh do tác giả cung cấp).

Tôi đã đọc một cách rất thú vị cuốn tự truyện mới xuất bản của Nhà báo, PGS.TS Nguyễn Hồng Vinh với tiêu đề “Mấy suy ngẫm về nghề báo, về đời” với tâm thức của lớp nhà báo đàn em lớp sau.

Tác giả Nguyễn Hồng Vinh là Ủy viên Trung ương Đảng khóa VIII, khóa IX, đại biểu Quốc hội khóa X, khóa XI, nguyên Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, nguyên Tổng Biên tập báo Nhân dân, nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, nguyên Chủ tịch Hội đồng lý luận, phê bình Văn học, nghệ thuật Trung ương, hiện là cây bút có uy tín ở cả thể loại báo chí và thơ ca.

Ông vừa được Đảng, Nhà nước tôn vinh là nhà báo lão thành tiêu biểu tại lễ kỷ niệm 100 năm Báo chí Cách mạng Việt Nam (1925-2025). Nói một chút về ông như thế để biết rằng, với bề dày làm việc và cương vị, trọng trách như vậy thì cuốn sách của ông xuất bản vào tháng 5/2025 hướng tới kỷ niệm 100 năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam vẻn vẹn có 247 trang, quả là rất khiêm tốn.

pgs-ts-nguyen-hong-vinh-va-cuon-sach-moi-tri-an-voi-dang-voi-doi-2.jpg
Nhà báo Hồng Vinh tặng Phó Thủ tướng Mai Văn Chính cuốn sách "Con người Việt Nam vào kỷ nguyên mới" của ông.

Cuốn tự truyện được kết cấu gồm 2 phần; phần nội dung chính gồm 6 chương 147 trang và phần phụ lục 100 trang trích một số bài viết của các nhà báo, nhà phê bình văn học nói về một số tập sách tiêu biểu của nhà báo, nhà thơ Hồng Vinh đã được xuất bản.

Nhìn chung đây là cuốn sách không dày, dễ đọc nhưng hàm chứa tình cảm sâu nặng, câu chữ giản dị, trong trẻo, tạo sự hấp dẫn người đọc khi được biết nhiều kỷ niệm, sự kiện phong phú, sinh động trong cuộc sống, nhiều chi tiết sống động, trung thực trong cuộc đời tác giả với thời gian 58 năm gắn bó với nghề báo, 59 năm đi theo dưới lá cờ Đảng…

Phần gây cho tôi ấn tượng đặc biệt là nhà báo Nguyễn Hồng Vinh kể đôi nét về tuổi thơ cơ cực của anh và gia đình thời bị thực dân Pháp chiếm đóng ở vùng đồng bằng Nam Định.

Ông là con út thứ 7, sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo có 4 anh trai và 2 chị gái ở xã Nam Chấn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định cũ.

Gia đình ông sống trong vùng chiếm đóng của thực dân Pháp những năm 1945-1954 nên cái nghèo khổ cùng cực bám riết lấy ông từ thuở ấu thơ cho tới khi được thi đỗ vào trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Bố ông làm nghề chở thuyền nan vận chuyển khách và hàng hóa tới các xã ở vùng đồng bằng chiêm trũng, mẹ làm nông và nội trợ, ba anh trai phải làm tá điền không được đi học, 2 chị gái làm nông, chợ búa từ nhỏ và lấy chồng sớm, chỉ mỗi mình Hồng Vinh con út thì được bố mẹ quyết tâm cho đi học.

Như Hồng Vinh giãi bày: ”Có thể nói cuộc đời tôi năm 8, 9 tuổi đã bị cuốn vào cảnh ngộ bươn chải, để gia đình đủ sống. Học hết cấp I, do công việc quá nhiều nên tôi năn nỉ xin bố mẹ cho nghỉ học một năm để có thời gian vừa làm, vừa ôn luyện nhằm có đủ sức thi vào học trường cấp 2 công lập huyện Nam Trực (vì nhà nghèo không đủ tiền học trường tư thục”, (trang 11,12).

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, đến năm 1956 từ 3 sào đất trước đây, gia đình ông có 9 người được Nhà nước cấp thêm cho 3 sào đất nữa ở cái lò gạch cũ vốn là đồn bốt của Pháp nằm giữa mênh mông nước.

Ở tuổi thiếu niên, nhưng Hồng Vinh lao động như người lớn từ tát gầu sòng, gầu dai, xếp ải đến cuốc đất, cày bừa. “Nhưng khổ nhất là những lúc vào mùa chuẩn bị cấy lúa, người ta đua nhau xếp ải thành những bức tường cao đến 1m để khi nắng gió chiếu vào đất sẽ chóng khô càng tốt và khi tát nước vào đất sẽ tan nhanh, việc bừa đất thuận lợi, đất chóng nhuyễn và đó cũng là nguồn phân giúp lúa bén rễ nhanh. Hai bàn tay tôi có hôm rớm máu vì liên tục phải đi xếp ải như vậy” (trang 15).

Ông còn bị thiệt thòi vì nhà xa giữa ốc đảo nên không được tham gia sinh hoạt đội thiếu niên tiền phong, đêm trung thu các bạn kéo nhau đi phá cỗ thì Hồng Vinh phải ở nhà làm việc. Lúc đầu thì ông thấy tủi thân, nhưng lớn lên, ông tâm sự: “Quãng đường niên thiếu tôi đã không được hưởng những thứ sinh hoạt tinh thần không thể thiếu vắng ở lứa tuổi thơ. Nhưng có lẽ cũng chính bởi những khó khăn, thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần từ nhỏ, đã trui rèn tôi sau này vượt qua được những thử thách nhiều mặt. Chính từ bài học cuộc đời từ nhỏ ấy đã dạy tôi phải biết nhẫn nại, biết kiên trì để tìm cách vượt qua nó…” (trang 15).

Thì ra đối với Hồng Vinh, ở mỗi lứa tuổi dù vất vả cơ cực thế nào, khát vọng ở con người ông là đều phải luôn làm việc, lao động cật lực, khắc phục mọi gian khó để vươn lên. Bài học này có thể nói đã dẫn dắt cuộc đời hoạt động cách mạng của anh luôn nuôi ý chí vượt lên gian lao để đi tới đích.

pgs-ts-nguyen-hong-vinh-va-cuon-sach-moi-tri-an-voi-dang-voi-doi-3.jpg
Nhà báo Hồng Vinh cùng các đồng nghiệp bên cây đa cổ thụ trong khuôn viên Báo Nhân dân ở 71 phố Hàng Trống, Hà Nội.

Quả vậy, sự kiên trì, nỗ lực ấy lại được tiếp tục phát huy trong những năm tháng của tuổi trẻ sinh viên nên khi còn đang học tại Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thì Nguyễn Hồng Vinh đã được kết nạp vào Đảng.

Ông được phân công về nhận công tác làm phóng viên tại Báo Nhân Dân, một tờ báo lớn của Đảng và Nhà nước ta. Một chặng đường mới đòi hỏi ông tiếp tục nỗ lực, kiên trì học hỏi, không lùi bước trước khó khăn.

Ông xung phong vào chiến trường đánh Mỹ, đến những nơi khó khăn, gian khổ nhất để rèn nghề, rèn người, từ đó có bước trưởng thành toàn diện. Lúc này cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ở giai đoạn khó khăn, thử thách nhất, ông được các đồng chí lãnh đạo như Tổng Biên tập Hoàng Tùng, Phó Tổng Biên tập Thép Mới, Trưởng ban Văn hóa, Văn nghệ Nguyễn Đức Thi và các nhà báo đàn anh tài ba, giỏi nghề chỉ bảo, dạy nghề không có giáo án; rồi chính ông đã chủ động đề xuất đi thực tế địa phương viết những bài báo đầu tiên.

Đức tính ham học hỏi, khiêm tốn, nhường nhịn ở ông đã giúp ông thu lượm chắt lọc kiến thức, đúc rút kinh nghiệm để trưởng thành nhanh được cấp trên khen ngợi, tin tưởng.

Sau hai năm rèn nghề báo bước đầu, nhà báo trẻ Nguyễn Hồng Vinh được tín nhiệm cử vào Bộ Tư lệnh đường 559 để phản ánh cuộc chiến đấu trên đường Trường Sơn của quân dân ta.

Nhờ sự quan tâm của Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên và Chính ủy Đặng Tính, sau vài hôm chờ đợi ở hầm phòng khách chờ tiếp thu ý kiến chỉ đạo từ Hà Nội của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Song Hào, ông được đi theo Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên vào các binh trạm đầy bom đạn ác liệt nhưng lòng xúc động xen lẫn niềm tự hào khi được nghe vị Tư lệnh đường Trường Sơn động viên: “Chào Hồng Vinh đã vô đây chia lửa với bọn mình” và căn dặn “ở đây bom đạn dội xuống bất thình lình, cậu cần rèn luyện đức bình tĩnh, nghiêm túc làm theo các chỉ lệnh của mình nhé”.

Hồng Vinh đã nhanh chóng vào cuộc viết những bài báo đầu tiên trong các căn hầm chìm sâu dưới lòng đất, bên ngọn đèn dầu lạc, muội đèn đen cả cằm, má và hai lỗ mũi... “Và cuộc hành trình nối nhau đi giữa ban ngày trên trời ầm ào tiếng máy bay địch và tiếng súng của bộ đội phòng không ta, tôi tự tìm đến các binh trạm, các đơn vị thành niên xung phong đang mở đường để thu lượm tài liệu viết bài” (trang 45, 46).

Sau những ngày tháng gian khổ trên chiến trường, từ những túi bom trên đường Trường Sơn đến những cầu, phà bị địch đánh phá ác liệt - mà điển hình là con đường Quyết thắng do đội Thanh niên xung phong số 25 anh hùng khai mở, tiếp đến là chiến trường Bình Trị Thiên ác liệt, năm 1972 khi đế quốc Mỹ gây chiến tranh trở lại đối với miền Bắc, Nguyễn Hồng Vinh được điều động trở ra Hà Nội nhập vào Tổ phóng viên quân sự của Báo Nhân dân.

Ông lại cùng với các nhà báo trực chiến, đi cùng bộ đội phòng không phản ánh cuộc chiến đấu của quân dân Hà Nội chiến đấu và chiến thắng cuộc tập kích bằng máy bay B52 của Mỹ vào Thủ đô trong 12 ngày đêm cuối năm 1972.

Đáng nhớ nhất là trong đêm 27/12/1972, Hồng Vinh đã theo xe quân đội kịp đến tận điểm máy bay B52 bị bắn rơi để viết bài báo “Bắt sống giặc lái trên sông Hồng” đoạn sông thuộc Phúc Thọ, Sơn Tây kịp gửi về Báo Nhân Dân để in ngay trong đêm…

Sau đó là một loạt bài báo phản ánh ý chí quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ ở các trận địa, nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã…

Miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, Nguyễn Hồng Vinh lại được Ban Biên tập cử tham gia Đoàn cán bộ của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đi tiếp quản các trường đại học ở miền Nam.

Đoàn làm việc ở Huế, Đà Nẵng, sau đó vào Sài Gòn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của anh chị em trí thức từng làm việc với chính quyền Sài Gòn trong quá trình đào tạo các thế hệ sinh viên, cuộc đối thoại nhiều chiều trong không khí đoàn kết, cởi mở, trân trọng để giúp đoàn cán bộ tham mưu cho lãnh đạo Bộ Đại học đề ra phương thức giáo dục tư tưởng và điều chỉnh chương trình chuyên môn…

Làm việc ở Sài Gòn một thời gian, Nguyễn Hồng Vinh lại được Tổng Biên tập báo Nhân Dân quyết định bổ sung vào nhóm phóng viên thường trú của báo ở Sài Gòn. Tại đó, Phó Tổng biên tập Thép Mới phụ trách phía Nam giao thêm cho anh đảm đương theo dõi và viết bài về miền Tây Nam Bộ và Tây Nguyên...

Những chuyến đi các tỉnh xa xôi chỉ bằng xe đò ở Tây Nguyên hoặc bằng tàu chợ xuống Năm Căn, Cà Mau…để tác nghiệp báo chí. Sợ nhất là ở Cà Mau giữa ban ngày mà phải ngồi trong mùng viết bài vì muỗi nhiều quá, ông phải nhờ chị cấp dưỡng cho mấy cây củi còn ướt để hun khói đuổi bớt muỗi mới hoàn thành được bài báo kịp phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV sau khi nước nhà thống nhất.

Trở lại 71 Hàng Trống, Hà Nội, Nguyễn Hồng Vinh tiếp tục được cử làm nhóm trưởng đột xuất ra quần đảo Trường Sa để viết bài phản ánh không khí bầu cử Quốc hội khóa VIII. Ông và nhóm phóng viên báo Nhân Dân đã cấp tốc vượt biển với sự giúp đỡ của Hải quân vùng 4.

Ông cùng nhóm có vinh dự đã bỏ phiếu bầu cử Quốc hội khóa VIII ngày 19/7/1992 ở Trường Sa. Năm sau, Hồng Vịnh lại được phân công ra Trường Sa lần nữa, ông đã tới các đảo Đá Lát, Đá Tây, An Bang, Nam Yết… sống và sinh hoạt chung cùng các chiến sĩ để phản ánh chân thực cuộc sống của bộ đội từng khắc phục muôn vàn khó khăn, gian khổ để bảo vệ vùng quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tiếp năm sau, năm 1994, nhà báo Hồng Vinh được cử ra Trường Sa trong chuyến tháp tùng Phó Chủ tịch Quốc hội Đặng Quân Thụy để nghiên cứu chuyên đề do cấp trên giao “kết hợp Quốc phòng với kinh tế ở quần đảo Trường Sa”. Sau chuyến đi, ông đóng góp nhiều ý kiến với Trưởng đoàn để hoàn thiện báo cáo Bộ Chính trị và Thường vụ Quốc hội chỉ đạo.

pgs-ts-nguyen-hong-vinh-va-cuon-sach-moi-tri-an-voi-dang-voi-doi-4.jpg
Nhà báo Hồng Vinh cùng lãnh đạo và đồng nghiệp trong Lễ ra mắt cuốn sách mới xuất bản.

Như vậy, quãng đời làm báo của Nguyễn Hồng Vinh thường được liên tục chọn giao nhiệm vụ đến những địa bàn nóng bỏng với nhiều gian khổ, thậm chí có thể hi sinh cả trong chiến tranh lẫn thời bình để tác nghiệp báo chí.

Ở đâu ông cũng gặp nhiều khó khăn đột xuất đòi hỏi nghị lực và sức sáng tạo để vượt qua. Ngay cả lúc được coi là êm ấm nhất như khi được cử đi làm nghiên cứu sinh báo chí ở Liên Xô cũ, cuộc sống, sinh hoạt khá đủ đầy, nhưng không ngày nào ông cảm thấy yên lòng khi ở Hà Nội vợ ông một mình bươn chải để nuôi hai con nhỏ sống rất vất vả thời bao cấp.

Tuần nào cũng ít nhất trực hai lần ca đêm, vợ ông đưa hai con đi theo, thậm chí có đêm phải chở bệnh nhân đi cấp cứu tuyến trên, vợ ông buộc phải đưa hai con nhỏ đi cùng xe cấp cứu ấy…

Chuyện ông kể thoáng qua nhưng đã gây xúc động mạnh với bạn đọc. Trong mọi thử thách như thế, ông đều gắng sức, vượt qua, sáng tạo mọi cách để hoàn thành nhiệm vụ.

Đó dường như vừa là thách thức vừa là may mắn của nghề làm báo để ông có cơ hội trưởng thành, sống tận hiến để viết nên những trang báo nóng bỏng tính thời sự, thấm đẫm hiện thực cuộc sống, tác động tích cực đối với phong trào cách mạng, được bạn đọc yêu mến hưởng ứng, cấp trên tin cậy, tín nhiệm.

Đọc những câu chuyện như thế, tôi mới hiểu thêm rằng, con đường báo chí của Nguyễn Hồng Vinh không bằng phẳng, may mắn, mà đầy sóng gió, thật gian khổ, nhọc nhằn nhưng ông luôn bền bỉ và cháy bỏng khát vọng để có sự thành công.

Viết đến đây, tôi bỗng nhớ chuyện ông kể, một lần trong cuộc họp của Ban Bí thư Trung ương Đảng xét bổ nhiệm Nguyễn Hồng Vinh làm Phó Tổng Biên tập báo Nhân Dân, sau khi nghe tờ trình của các cơ quan chức năng, Tổng Bí thư Đỗ Mười mời đồng chí Lê Khả Phiêu lúc đó là Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư phát biểu đầu tiên, với lời ngắn gọn “các tờ trình đã khẳng định phẩm chất, năng lực đồng chí Hồng Vinh, riêng tôi xin được nhấn mạnh, người có một chữ Trường đã quý, ở đây đồng chí Vinh đạt hai chữ Trường: 2 lần đi Trường Sơn và 3 lần đi Trường Sa, đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Mọi người dự họp cười vui và vỗ tay tán thưởng” (trang 51).

pgs-ts-nguyen-hong-vinh-va-cuon-sach-moi-tri-an-voi-dang-voi-doi-5.jpg

Điều nữa khiến tôi rất tâm đắc, khâm phục Nguyễn Hồng Vinh thể hiện qua cuốn sách này chính là sự khiêm nhường, khiêm tốn, phải chăng là bản chất con người ông?

Đọc hai chương “ Học làm báo từ những tấm gương cụ thể” và “Trưởng thành từ cây đa Hàng Trống” tôi hiểu thêm về những bước trưởng thành của Nguyễn Hồng Vinh trong mối quan hệ với các đồng chí lãnh đạo tờ báo, những nhà báo tài năng có uy tín lớn trong làng báo Cách mạng Việt Nam và các đồng nghiệp, bạn hữu ở báo Nhân Dân một thuở.

Ông coi đó là sự may mắn và là niềm hạnh phúc khi vừa bước chân vào nghề báo đã được làm việc, được các nhà báo cách mạng lừng danh một thời như Hoàng Tùng, nhà báo Thép Mới, nhà báo Nguyễn Đức Thi, nhà báo Quang Đạm, nhà báo Trần Kiên chỉ bảo, rèn cặp, tạo mọi điều kiện để nhanh trưởng thành.

Ông tâm sự “gương làm báo viết báo của các anh Hoàng Tùng, Hồng Hà, Lưu Quý Kỳ, Trần Công Mân, Hữu Thọ và nhiều người khác thật sự là quá trình sống động” (trang 57).

“Đối với ba nhà báo gạo cội là Hà Đăng, Trần Lâm và Phan Quang, tôi có thói quen đọc và ghi chép tóm tắt những chi tiết, những đoạn văn tôi thấy thú vị, những cống hiến lớn lao của họ cho nền Báo chí Cách mạng Việt Nam” (trang 58).

Với nhà báo lão thành Hà Đăng, ông cho rằng “có thể nói anh là nhà báo đa năng, đa tài viết được nhiều thể loại hấp dẫn, đặc biệt là các bài chính luận, điều tra - mà tiêu biểu là “ Ba lần đuổi kịp trung nông” được Bác Hồ khen".

Ba cuốn sách của ông là "Thế ta phải thắng, Đi lên từ sản xuất nhỏ, Cái mới trong đổi mới", tôi học được rất nhiều điều từ cách chọn đề tài, cách diễn đạt rành rõ, dễ hiểu, dễ nhớ và nghệ thuật dùng hình ảnh thích hợp làm tăng tính hấp dẫn của bài” (trang 59).

Với nhà báo Trần Lâm, ông cho rằng “hai công cụ có sức lan tỏa rộng ra thế giới là Phát thanh và truyền hình của báo chí Cách mạng Việt Nam, chúng ta ghi ơn người “kiến trúc sư trưởng”, đóng vai trò chủ lực và tiên phong ấy là nhà báo Trần Lâm, đã bền bỉ, sáng tạo hơn 6 thập niên từ xây dựng cơ sở vật chất đến đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất để thực hiện xuất sắc nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể” (trang 59).

Với nhà báo Phan Quang, ông ghi lại kỷ niệm: “Vì là người được tham gia Thường vụ Hội nhà báo Việt Nam liên tục 3 khóa, sau đó tôi được kế nhiệm ông làm Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam nên tôi học hỏi được rất nhiều ở ông cách nói, cách viết, cách tổ chức quản lý…. Tôi thấm thía điều ông tổng kết: Muốn làm báo hay, mỗi nhà báo nên làm tốt quá trình Đọc-Đi-Nghĩ-Viết…” (trang 63).

Riêng với nhà báo Tổng Biên tập Hoàng Tùng, ông kể nhiều kỷ niệm như một lời ghi ơn sâu sắc : “Tôi cảm thấy những năm ở báo Nhân Dân, ông Hoàng Tùng đã dạy tôi trực tiếp. Qua mấy chục năm “dưới trướng ông”, tôi thường xuyên gián tiếp thụ lượm được nhiều điều bổ ích, thiết thực”.

Nguyễn Hồng Vinh còn kể, lần ông đến gặp xin mời nhà báo Hoàng Tùng viết lời giới thiệu cho cuốn sách “Đất nước qua những chặng đường làm báo”, được nhà báo Hoàng Tùng tâm sự rằng “Mình còn nhớ một số bài chính luận của cậu, mình đã từng duyệt, cậu chọn đưa vào đây là đúng chủ đề. Tôi chỉ biết nói một câu “thưa anh đúng như vậy. Rất cảm ơn anh đã quan tâm đến người lính, được anh đào luyện bằng nhiều cách rất có hiệu quả”. Ông cười nắm chặt tay tôi và nói: “Đã cố gắng hãy cố gắng hơn nữa. Mình rất mừng bước đường trưởng thành vững chắc của cậu” (trang 67).

pgs-ts-nguyen-hong-vinh-va-cuon-sach-moi-tri-an-voi-dang-voi-doi-6.jpg
Nhà báo Hồng Vinh cùng các nhà báo lão thành tiêu biểu đại diện các nhà báo Việt Nam đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh do Đảng, Nhà nước tặng Hội Nhà báo Việt Nam tại Lễ Kỷ niệm 100 năm Ngày báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6/1925-21/6/2025.

Không chỉ đối với các đồng chí lãnh đạo, trong những trang tự truyện của mình, nhà báo Hồng Vinh còn ghi lại nhiều kỷ niệm thân thương, đầy tình người giữa anh và các nhà báo đồng nghiệp ở Báo Nhân dân, những người mà anh cho rằng sự đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau như là một thành tố bất biến để mỗi nhà báo ở đây trưởng thành, phát triển.

Ông nhắc tới các nhà báo Quang Đạm, Thu Thành, Đức Lượng, Kim Anh, Quang Bình, Trần Thăng, Kim Khúc, Đinh Thế Huynh, Vũ Công Thạo… và hàng chục nhà báo, cán bộ khác, mỗi người mỗi vẻ từng gắn bó, giúp đỡ ông hoàn thành nhiệm vụ.

Tôi có cảm giác ông ẩn mình sau những thành công. Ví như vào năm 1996, với tư cách là Tổng Biên tập báo Nhân Dân, ông đề xuất Bộ Chính trị tăng Báo Nhân Dân từ 4 lên 8 trang, cho phép mở văn phòng thường trú ở nước ngoài, tích cực ra báo điện tử tiếng Việt và tiếng Anh, đổi măng sét báo Nhân Dân với 3 dòng chữ “Nhân dân, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam; Tiếng nói của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam” được Tổng Bí thư Đỗ Mười ký duyệt chính thức ra mắt bạn đọc vào ngày 1/1/1997.

Phải nói đây là công việc rất lớn mang dấu ấn cá nhân Tổng Biên tập, nhưng Nguyễn Hồng Vinh cũng chỉ nói rất ngắn, coi là công sức của tập thể Báo: “Tôi cùng với các anh Đinh Thế Huynh, Thư ký Toà soạn và Chánh Văn phòng Vũ Công Thạo trong Ban Biên tập lên phòng làm việc của Tổng Bí thư Đỗ Mười tại nhà số 4 Nguyễn Cảnh Chân trình bày măng sét mới của báo Đảng 8 trang với 3 dòng chữ…”, “Thật ra để có măng sét này, Tổng Bí thư Đỗ Mười rất cẩn trọng, trước đó đã nhắc tôi phải tham khảo bên phía Nhà nước, cụ thể là ý kiến của đồng chí Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình (vì lúc đó đồng chí Chủ tịch nước Lê Đức Anh đi công tác nước ngoài)…”.

Tôi đồ rằng, khi viết những công việc liên quan đến vai trò Tổng Biên tập báo Nhân dân lúc mình đảm đương, có cảm giác, nhà báo Nguyễn Hồng Vinh đã cố tình ẩn mình đi. Dường như những thành công, đóng góp của ông cho tờ báo suốt 33 năm gắn bó với Báo Nhân Dân cũng như 17 năm gắn bó với Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương thường được ông tiết chế không nói về dấu ấn cá nhân mình. Điều đó với tôi thật thấm thía, khâm phục và đáng trọng.

Gấp cuốn sách lại văng vẳng trong tôi là những vần thơ của Nguyễn Hồng Vinh được vọng lên từ con chữ. Tôi hình dung chàng trai có tên ban đầu là Nguyễn Duy Lự suốt đời mang trong tên khai sinh mình bộ chữ TÂM mà người bố đặt cho, đã đi từ cánh đồng chiêm trũng tới vầng mặt trời của Đảng.

Từ cậu bé sống trong vùng thực dân Pháp chiếm đóng, ông vượt khó học hành để vươn lên rồi trưởng thành trong chế độ mới của đất nước độc lập, tự do do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo.

Ông đã phấn đấu học giỏi ở trường Đại học, phấn đấu vào Đảng Cộng sản Việt Nam, về làm Báo Nhân Dân đi nhiều, gan góc, viết khỏe ở nhiều vùng chiến sự, nhiều vùng đất khó khăn, gian khổ nhất, trui rèn thành một người tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng.

Đọc cuốn sách có thể thấy cả một thế hệ những công dân sinh từ năm 1945 như ông đã tận tâm, tận lực phấn đấu hết mình vươn lên để trưởng thành đóng góp phần mình có hiệu quả cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, bảo vệ Tổ quốc.

Thế hệ nhà báo chúng tôi sinh ra trong chiến tranh, trưởng thành khi nước nhà đã thống nhất, được sống, làm việc trong hòa bình xin bày tỏ lòng kính trọng, khâm phục nhà báo Nguyễn Hồng Vinh và thế hệ nhà báo lão thành.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ

'Thỏ Ơi' của Trấn Thành xuất ngoại

'Thỏ Ơi' của Trấn Thành xuất ngoại

GD&TĐ - Sau khi tạo 'cơn sốt' tại phòng vé Việt Nam, phim “Thỏ Ơi” của Trấn Thành chính thức được công chiếu tại hơn 14 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.