Khánh thành đình Mạnh Trữ thờ Vĩnh Gia công chúa và 3 vị đại vương

GD&TĐ - Ngày 10/3 Xuân Bính Ngọ 2026 (ngày 26/4 Dương lịch), đình Mạnh Trữ (xã Yên Lãng, Hà Nội) khánh thành, mở ra hành trình nối dài ký ức lịch sử, tín ngưỡng của một vùng đất cổ.

Đình Mạnh Trữ trước ngày khánh thành.
Đình Mạnh Trữ trước ngày khánh thành.

Từ trang Mạnh Lân xưa đến Mạnh Trữ nay

Trong dòng chảy văn hóa của đồng bằng Bắc Bộ, đình làng không chỉ là một thiết chế tín ngưỡng, mà còn là “ký ức sống” của cộng đồng. Đình Mạnh Trữ tọa lạc tại thôn Mạnh Trữ, xã Yên Lãng (huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc cũ) là một trường hợp tiêu biểu, nơi lịch sử, truyền thuyết và đời sống cộng đồng đan xen qua nhiều thế kỷ.

Theo các thư tịch cổ và ngọc phả do Hàn lâm viện Đông các học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn năm 1572, sau đó được Nội các triều Lê sao chép năm 1740, đình Mạnh Trữ được xây dựng từ trước thế kỷ XV, là nơi thờ Thành hoàng làng và các bậc tiền nhân có công giúp nước, an dân. Không gian ấy từng là trung tâm sinh hoạt của làng, nơi hội họp, nơi kết tinh những chuẩn mực đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của cư dân nông nghiệp.

img-20260426-092433.jpg
Đình Mạnh Trữ được đầu tư xây mới.

Địa danh Mạnh Trữ hôm nay vốn là trang Mạnh Lân xưa, một vùng đất cổ thuộc khu vực châu thổ sông Hồng, từng giữ vai trò quan trọng trong nhiều giai đoạn lịch sử. Tư liệu cho thấy nơi đây từng là điểm tập kết lực lượng trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng, rồi tiếp tục hiện diện trong các phong trào kháng chiến về sau. Đình làng vì thế không chỉ là nơi thờ tự mà còn là không gian cộng đồng, nơi những sự kiện lịch sử được khắc ghi.

Đặc biệt, trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, đình Mạnh Trữ trở thành một trong những cơ sở cách mạng của tỉnh Phúc Yên. Tháng 5/1945, tại đây đã diễn ra cuộc mít tinh lớn của Mặt trận Việt Minh với hơn 300 người tham gia, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám. Sự kiện này khẳng định vai trò của đình như một “điểm tụ lực” của lịch sử, nơi tinh thần yêu nước được hun đúc qua nhiều thế hệ.

Trải qua biến thiên của chiến tranh và thời gian, đình từng xuống cấp, nhiều kiến trúc cổ không còn. Tuy nhiên, với truyền thống gìn giữ di sản, Nhân dân địa phương đã nhiều lần tôn tạo, trong đó đáng chú ý là đợt phục dựng hậu cung giai đoạn 1997-1998. Đến ngày 15/1/2004, đình Mạnh Trữ được UBND tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) xếp hạng là Di tích lịch sử cấp tỉnh.

img-20260426-092440.jpg
Quang cảnh lễ khánh thành.

Lễ khánh thành năm 2026 vì thế không chỉ là sự hoàn thiện của một công trình kiến trúc sau 3 năm xây dựng trên diện tích khoảng 14.000m2, mà còn là sự trở về của ký ức cộng đồng, là hành trình “dựng lại” một không gian văn hóa đã từng là trung tâm tinh thần của làng quê.

Bốn ngai thờ và câu chuyện về những vị thần

Điểm đặc sắc nhất của đình Mạnh Trữ không chỉ nằm ở lịch sử, mà còn ở hệ thống thờ tự, nơi hội tụ bốn vị thần gắn với những lớp trầm tích văn hóa khác nhau.

Trong hậu cung, bốn cỗ ngai thờ được đặt trang nghiêm, sơn son thếp vàng, có kích thước và cấu trúc tương đồng, cao khoảng 1,5m, chạm khắc rồng, hổ phù, vân mây, hoa lá… tạo nên một không gian linh thiêng và uy nghi.

Thứ tự các ngai, từ trái sang phải theo hướng đình, lần lượt là: Phan Lý đại vương, Vĩnh Gia công chúa, Cao vương thiên tử đại vương (tức Cao Biền) và Đàm Bồ đại vương .

Đây không chỉ là những tên gọi, mà là những câu chuyện lịch sử, truyền thuyết được lưu truyền qua nhiều thế kỷ.

20260426-092052.jpg
Đình còn lưu giữ được cỗ kiệu cổ.

Theo ngọc phả, Cao Biền là Tiết độ sứ nhà Đường cai quản An Nam vào thế kỷ IX. Dù là quan cai trị, nhưng trong thời gian ở đây, ông có những đóng góp nhất định như khai khẩn đất đai, mở mang thủy lợi, phục hồi kinh tế địa phương. Việc người dân Mạnh Trữ tôn thờ Cao Biền phản ánh một cách ứng xử đặc biệt, cởi mở, khoan hòa, trọng nghĩa, một biểu hiện sâu sắc của văn hóa Việt.

Gắn liền với Cao Biền là Đào Vĩnh Gia, người phụ nữ của trang Mạnh Lân. Theo thần tích, bà không chỉ là phu nhân mà còn là người trợ giúp ông trong việc cai quản, đồng thời khuyên thực hiện nhiều chính sách có lợi cho dân như khai hoang, phát triển sản xuất.

Khi quân Nam Chiếu xâm lược, bà trực tiếp cầm quân chiến đấu và đã tuẫn tiết tại cửa sông quê nhà vào ngày 15/5, trở thành biểu tượng của khí tiết và lòng trung trinh.

Hai vị thần Phan Lý và Đàm Bồ lại mang màu sắc linh thiêng của tín ngưỡng dân gian. Theo truyền thuyết, họ xuất hiện trong giấc mộng của Cao Biền, xin giúp sức đánh giặc. Sau khi chiến thắng, dân làng lập đền thờ, tôn làm thần và phối thờ tại đình Mạnh Trữ. Sự hiện diện của hai vị thần này cho thấy sự giao thoa giữa yếu tố lịch sử và tín ngưỡng trong đời sống tinh thần của cộng đồng.

img-20260426-092449.jpg
Tiết mục văn nghệ của thôn Mạnh Trữ.

Trải qua các triều đại, bốn vị thần đều được phong sắc, từ thời Đinh, Tiền Lê, Trần đến Lê, khẳng định vị thế của họ trong hệ thống thần linh làng xã. Các ngày lễ như ngày sinh, ngày hóa của Vĩnh Gia công chúa, hay các kỳ lễ cầu phúc Xuân, Thu vẫn được duy trì, tạo nên mạch nối liên tục giữa quá khứ và hiện tại.

Nhìn từ hệ thống thờ tự này, đình Mạnh Trữ không chỉ là nơi thờ thần, mà còn là nơi lưu giữ cách người Việt ghi nhớ lịch sử: Không phân biệt rạch ròi giữa “chính sử” và “dân gian”, mà dung hòa tất cả trong một không gian linh thiêng, nơi công lao dù đến từ bất cứ nguồn gốc nào đều được tôn vinh.

Lễ khánh thành đình Mạnh Trữ năm 2026 vì thế mang ý nghĩa vượt ra ngoài một sự kiện văn hóa. Đó là dịp để cộng đồng nhìn lại chính mình, nhận diện lại những giá trị đã làm nên bản sắc, và tiếp tục kể câu chuyện của vùng đất qua những thế hệ mai sau.

Hệ thống sắc phong tại đình Mạnh Trữ cho thấy sự ghi nhận xuyên suốt của các triều đại phong kiến đối với Vĩnh Gia công chúa và 3 vị đại vương (Cao Biền, Phan Lý, Đàm Bồ), 4 nhân vật trung tâm trong không gian thờ tự của di tích.

Theo ngọc phả, từ thời Đinh Tiên Hoàng, sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, các vị đã được phong tặng, đặt nền tảng cho việc chính thống hóa tín ngưỡng dân gian.

Đến triều Lê Đại Hành, hệ thống tước hiệu tiếp tục được hoàn chỉnh với các mỹ tự trang trọng, trong đó Vĩnh Gia được tôn là “Trung trinh liệt tiết Uyển Trang phu nhân”, còn 3 vị được gia phong tước đại vương.

Sang thời Trần Thái Tông, 4 vị được phong là “Linh ứng hiển hiển, minh trợ thuận hiển vương”, thể hiện niềm tin vào sự linh ứng phù trợ quốc gia trong bối cảnh chống ngoại xâm.

Đến thời Lê Thái Tổ, các vị tiếp tục được tôn vinh với danh hiệu “Đại vương phổ tế, cương nghị, anh võ”.

Dưới triều Nguyễn, các đạo sắc ban hành vào các năm Duy Tân (1911) và Khải Định (1922, 1924) lần lượt phong cho Vĩnh Gia công chúa và 3 vị đại vương, hoàn thiện hệ thống sắc phong kéo dài qua nhiều thế kỷ.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ