Trong những năm qua, công tác giảm nghèo bền vững luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp, ngành quan tâm chỉ đạo quyết liệt; triển khai đồng bộ nhiều chính sách, chương trình, dự án với mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ về công tác giảm nghèo trong những năm qua trên Báo Nhân dân, nhờ triển khai đồng bộ nhiều chính sách hỗ trợ sinh kế, tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề, nhà ở, y tế và giáo dục, Việt Nam đã duy trì được tốc độ giảm nghèo ổn định, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được thiết kế theo hướng đa chiều, bao trùm, bền vững hơn khi tập trung vào phát triển sinh kế và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, thay vì chỉ hỗ trợ thu nhập như trước.
Nhờ vậy, các chỉ tiêu quan trọng đều đạt và vượt kế hoạch. Tỷ lệ nghèo đa chiều từ 9,35% (2022) giảm còn 4,06% (2024); Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm trung bình 4,3%/năm, còn 12,55% (2024). Dự kiến năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc còn khoảng 3%, vượt mục tiêu bình quân giảm 1-1,5%/năm mà Nghị quyết Quốc hội đề ra.
Cơ sở hạ tầng thiết yếu tại nhiều xã, thôn đặc biệt khó khăn được đầu tư đồng bộ; đời sống, thu nhập và mức độ tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục của người dân cải thiện rõ rệt.
Một trong những điểm nhấn quan trọng của giai đoạn 2021-2025 là sự hình thành và nhân rộng các mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện từng vùng. Đến nay, Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 đã triển khai 10.587 mô hình và dự án giảm nghèo, thu hút hơn 205.000 hộ nghèo, cận nghèo và mới thoát nghèo tham gia. Trong đó, 6.174 dự án hỗ trợ sản xuất nông nghiệp đã giúp gần 100.000 hộ áp dụng kỹ thuật mới, chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất gắn chuỗi giá trị.
Nhiều mô hình gắn với chương trình OCOP, chuyển đổi sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu, phát triển du lịch cộng đồng… mang lại hiệu quả thực tế và ổn định.
Các dự án không chỉ tạo thu nhập bền vững mà còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, góp phần thay đổi tư duy sản xuất theo hướng chuyên nghiệp, liên kết và bền vững hơn.
Những đổi mới trong các mô hình giảm nghèo bền vững đã có những thay đổi. Xu hướng chung là chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang trao “cần câu”, khuyến khích người dân chủ động vươn lên. Các mô hình hiện nay không chỉ mang lại thu nhập mà còn tạo ra sự thay đổi về nhận thức và năng lực của người dân
Nhiều địa phương thời gian qua đã linh hoạt thiết kế mô hình dựa trên lợi thế bản địa, như: Trồng dược liệu, phát triển cây ăn quả, chăn nuôi theo chuỗi, nuôi thủy sản, du lịch sinh thái, làng nghề truyền thống… Những mô hình này đi thẳng vào nguyên nhân của nghèo đói, giúp người dân tiếp cận thị trường, kết nối doanh nghiệp, tiếp cận tín dụng và mở rộng sản xuất.
Đặc biệt, nhiều địa phương đẩy mạnh đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nghèo và người thu nhập thấp. Sau khóa học, phần lớn học viên được giới thiệu việc làm hoặc hoặc tự khởi nghiệp tại địa phương, giúp họ có thu nhập ổn định và từng bước thoát nghèo và tái nghèo.
Tuy nhiên, TS Trần Công Thắng đã chỉ ra một số khó khăn, như: Tỷ lệ hộ nghèo tại vùng sâu, vùng xa vẫn cao; nguy cơ tái nghèo lớn do thiên tai và biến động thị trường; nguồn lực phân bổ giai đoạn đầu còn chậm; năng lực theo dõi, đánh giá ở các cơ sở còn chưa đồng đều…
Khi triển khai chính quyền hai cấp, nhiều địa phương có địa bàn rộng, dân cư thưa, điều kiện giao thông khó khăn, thiên tai và biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp… cũng sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện.
Để thực hiện chính sách giảm nghèo thực sự đi vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp, phân cấp và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện ở cơ sở, đồng thời tiếp tục nhân rộng các mô hình sinh kế bền vững, gắn với phát triển cộng đồng.