Với đặc thù riêng, trường sư phạm không chỉ thực hiện sứ mệnh đào tạo giáo viên, mà còn có thể tham gia sâu vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Vị thế đặc thù của trường sư phạm
Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Nhiều chủ trương, chính sách lớn được ban hành, thúc đẩy giáo dục và đào tạo đổi mới, phát triển mạnh mẽ, đạt được những kết quả quan trọng.
Một trong những quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo là “Giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”.
Với nhiệm vụ, giải pháp “Hiện đại hóa, nâng tầm giáo dục đại học, tạo đột phá phát triển nhân lực trình độ cao và nhân tài, dẫn dắt nghiên cứu, đổi mới sáng tạo”, Nghị quyết số 71-NQ/TW cũng ghi rõ: Gắn kết các hoạt động đào tạo với nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia.
Trong khi đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia nhấn mạnh, phát triển các viện nghiên cứu, trường đại học trở thành các chủ thể nghiên cứu mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo.
Đồng thời, có cơ chế, chính sách hấp dẫn về tín dụng, học bổng và học phí để thu hút học sinh, sinh viên giỏi theo học các lĩnh vực toán học, vật lí, sinh học, hóa học, kỹ thuật và công nghệ then chốt, nhất là ở các trình độ sau đại học. Xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo tài năng trên các lĩnh vực…
Trước nhiệm vụ này, PGS.TS Võ Văn Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng cho rằng, các trường sư phạm có vị thế rất đặc thù, bởi nền tảng phát triển của khối này là khoa học cơ bản và đào tạo giáo viên - lực lượng giữ vai trò hình thành tư duy cho các thế hệ tương lai.
Thứ nhất, theo PGS.TS Võ Văn Minh, để khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể phát triển bền vững, điều kiện tiên quyết không chỉ là nguồn lực đầu tư hay hạ tầng kỹ thuật, mà quan trọng hơn là nguồn nhân lực có tư duy khoa học, năng lực sáng tạo và khát vọng cống hiến. Những phẩm chất này không tự nhiên hình thành trong một sớm một chiều, mà cần được bồi dưỡng từ nền giáo dục phổ thông thông qua đội ngũ giáo viên có tư duy đổi mới, năng lực truyền cảm hứng.
Chính vì vậy, các trường sư phạm giữ vai trò “cái nôi” đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo - lực lượng trực tiếp lan tỏa tinh thần khoa học, khơi dậy đam mê sáng tạo cho học sinh và góp phần hình thành văn hóa đổi mới trong toàn xã hội. Nếu xem đổi mới sáng tạo là dòng chảy, thì giáo viên chính là những người mở nguồn cho dòng chảy ấy.
Các trường sư phạm vì thế không đứng ngoài, mà cần được tham gia một cách chủ động và mạnh mẽ vào quá trình triển khai nghị quyết, từ đổi mới chương trình đào tạo giáo viên đến bồi dưỡng năng lực thích ứng với môi trường giáo dục số.
Thứ hai, PGS.TS Võ Văn Minh cho rằng, thực chất của đột phá khoa học - công nghệ và cạnh tranh chiến lược trong bối cảnh mới không chỉ nằm ở các giải pháp kỹ thuật đơn lẻ hay những cải tiến công nghệ mang tính ngắn hạn, mà đòi hỏi nền tảng tri thức vững chắc, năng lực nghiên cứu các công nghệ lõi và một hệ sinh thái sáng tạo được nuôi dưỡng lâu dài.
Đây chính là thế mạnh nổi bật của các cơ sở giáo dục đại học, trong đó có các trường sư phạm. Với nền tảng khoa học cơ bản, môi trường học thuật và văn hóa sáng tạo được tích lũy qua nhiều thế hệ, các trường đại học có khả năng tham gia sâu vào chuỗi nghiên cứu - phát triển - chuyển giao tri thức. Khi được kết nối hiệu quả với doanh nghiệp công nghệ và các trung tâm đổi mới sáng tạo, nguồn lực nghiên cứu của khu vực đại học sẽ được tối ưu hóa, tạo ra giá trị gia tăng bền vững thay vì chỉ dừng lại ở các cải tiến kỹ thuật ngắn hạn.
Thực tiễn cho thấy đội ngũ trí thức tại các trường đại học nói chung và các trường sư phạm nói riêng có tiềm lực chuyên môn rất mạnh. Tuy nhiên, sự liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp và các chủ thể của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Điều này không xuất phát từ hạn chế của riêng bên nào, mà chủ yếu do thiếu những cơ chế kết nối hiệu quả và những “không gian hợp tác” đủ thuận lợi để các nguồn lực gặp nhau.
Nêu thực trạng này, PGS.TS Võ Văn Minh nhìn nhận, nếu có cơ chế, chính sách rõ ràng, môi trường hợp tác minh bạch và cơ chế chia sẻ lợi ích hài hòa, sự gắn kết giữa nhà trường - doanh nghiệp - Nhà nước sẽ trở thành nhu cầu tự thân thay vì các mối liên kết mang tính hình thức. Khi đó, tiềm lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên, nhà khoa học trong các trường đại học sư phạm sẽ được phát huy mạnh mẽ, đóng góp thiết thực vào việc hiện thực hóa các mục tiêu lớn của nghị quyết.
3 hướng đóng góp quan trọng
PGS.TS Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội nhận định, các trường sư phạm không chỉ là nơi đào tạo giáo viên mà còn là các trung tâm nghiên cứu có nhiệm vụ dẫn dắt tư duy giáo dục, phát triển khoa học của sự học và dự báo những biến đổi mới của con người trong bối cảnh công nghệ số và trí tuệ nhân tạo.
Trước hết, các trường sư phạm có trách nhiệm đào tạo đội ngũ giáo viên có năng lực đáp ứng yêu cầu của nền giáo dục trong kỷ nguyên số. Điều này đòi hỏi các chương trình đào tạo giáo viên phải được thiết kế theo hướng liên ngành, tích hợp STEM, khoa học dữ liệu và công nghệ giáo dục.
Giáo viên tương lai không chỉ nắm vững kiến thức chuyên môn mà còn cần năng lực thiết kế môi trường học tập, tổ chức các dự án học tập thực tiễn và sử dụng công nghệ để cá nhân hóa quá trình học tập của học sinh. Các trường sư phạm trọng điểm cần chủ động tham gia các chương trình đào tạo tài năng quốc gia, trong đó có các sáng kiến phát triển nguồn nhân lực STEM quy mô lớn cho giai đoạn sau năm 2026.
Tuy nhiên, đóng góp cốt lõi của các trường sư phạm không chỉ dừng lại ở đào tạo giáo viên mà còn thể hiện ở vai trò tiên phong trong nghiên cứu giáo dục. Nhấn mạnh điều này, PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng, trong bối cảnh khoa học giáo dục đang hội tụ mạnh mẽ với trí tuệ nhân tạo, khoa học thần kinh và tâm lý học, các trường sư phạm cần đi đầu xây dựng những khung lý luận mới về triết lý giáo dục và khoa học của sự học.
Đồng thời, các cơ sở này cần vừa tiên phong trong nghiên cứu lý luận, vừa phát triển các sản phẩm ứng dụng tạo giá trị như mô hình học tập cá nhân hóa, hệ thống gia sư thông minh và các nền tảng phân tích dữ liệu học tập quy mô lớn, phù hợp với người học và bối cảnh văn hóa Việt Nam.
Song song với đó, nghiên cứu tâm lý học hiện đại cũng đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng liên ngành, tích hợp học máy, phân tích dữ liệu lớn và khoa học thần kinh nhằm hiểu sâu hơn các cơ chế nhận thức, cảm xúc, hành vi của con người. Các hướng nghiên cứu mới như tâm thần học tính toán, sức khỏe tâm thần số, đa dạng thần kinh, hay tác động của mạng xã hội đối với thanh thiếu niên cho thấy nhu cầu cấp thiết phải nghiên cứu những vấn đề tâm lý giáo dục mới nổi trong xã hội số.
Điều này đặt ra yêu cầu các trường sư phạm phải trở thành các “đài quan sát khoa học”, có khả năng phát hiện sớm các rủi ro và cơ hội liên quan đến sự phát triển của người học trong môi trường học tập số hóa. Dự báo trước để tư vấn chính sách cho nền giáo dục.
Ngoài ra, theo PGS.TS Trần Thành Nam, từ góc độ hệ thống giáo dục quốc gia, các trường sư phạm còn giữ vai trò trung tâm trong việc phát triển các mô hình giáo dục mới. Với lợi thế về nghiên cứu lý luận và thực nghiệm giáo dục, trường sư phạm có thể xây dựng các khung chương trình STEM/STEAM phù hợp với bối cảnh Việt Nam, phát triển học liệu số, thử nghiệm các mô hình dạy học kết hợp giữa lớp học truyền thống và môi trường học tập số. Những nghiên cứu này không chỉ phục vụ đào tạo giáo viên mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho việc cải cách giáo dục phổ thông.
Nghị quyết của Bộ Chính trị cũng mở ra cơ hội lớn cho sự hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp trong phát triển công nghệ giáo dục. Về nội dung này, PGS.TS Trần Thành Nam nhấn mạnh, các trường sư phạm cần chủ động tham gia các mạng lưới đổi mới sáng tạo, hợp tác với doanh nghiệp công nghệ để phát triển các sản phẩm giáo dục số, hệ thống gia sư AI và các nền tảng học tập thông minh dựa trên nguồn học liệu chuẩn hóa của Việt Nam.
Sự kết nối này giúp rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu hàn lâm và ứng dụng thực tiễn, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển giao tri thức vào hệ thống giáo dục.
Bên cạnh đó, các trường sư phạm đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực số cho đội ngũ giáo viên và cộng đồng. Các sáng kiến phổ cập kỹ năng số, đào tạo giáo viên về trí tuệ nhân tạo trong giáo dục, hay các chương trình hỗ trợ cộng đồng học tập số là những bước đi thiết thực để thực hiện mục tiêu chuyển đổi số quốc gia.
Tại hội nghị giao ban với các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW do Bộ GD&ĐT tổ chức, PGS.TS Nguyễn Đức Sơn - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đề cập đến 3 hướng chính có thể đóng góp, tham gia triển khai đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đó là: nghiên cứu khoa học giáo dục, phát triển khoa học cơ bản, thúc đẩy giáo dục STEM ở bậc phổ thông.
Thứ nhất là nghiên cứu khoa học giáo dục. Theo PGS.TS Nguyễn Đức Sơn, thế mạnh của các trường sư phạm không phải công nghệ mà là khoa học giáo dục. Đây là lĩnh vực có đặc thù khác với các ngành công nghệ ở chỗ khó tạo ra những sản phẩm mang tính đột phá ngay lập tức.
Giáo dục là quá trình lâu dài nhằm phát triển con người, vì vậy nghiên cứu khoa học giáo dục chủ yếu đóng góp theo hướng từng bước nâng cao trình độ và tư duy khoa học giáo dục. Kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển giao cho đội ngũ giáo viên thông qua các chương trình bồi dưỡng, đào tạo lại, từ đó nâng cao chất lượng đội ngũ và chất lượng giáo dục, đặc biệt ở bậc phổ thông.
Bởi vậy, trong quá trình triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị, cần dành sự quan tâm thích đáng cho lĩnh vực khoa học giáo dục. Liên quan đến nội dung này, PGS.TS Nguyễn Đức Sơn đồng thời đề nghị sớm thúc đẩy triển khai Chương trình khoa học giáo dục cấp quốc gia để duy trì động lực cho nghiên cứu khoa học giáo dục và quá trình đổi mới giáo dục.
Đưa đề xuất công nhận các hoạt động chuyển giao tri thức giáo dục như một dạng chuyển giao khoa học và công nghệ, PGS.TS Nguyễn Đức Sơn cho rằng, khi các trường sư phạm xây dựng chương trình đào tạo, chương trình bồi dưỡng giáo viên dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học và tổ chức tập huấn cho đội ngũ giáo viên thì nên được coi là một hình thức chuyển giao khoa học công nghệ. Cách tiếp cận này sẽ giúp phản ánh đúng đặc thù hoạt động khoa học của khối trường sư phạm.
Hướng thứ hai là phát triển khoa học cơ bản. Theo PGS.TS Nguyễn Đức Sơn, trong các trường sư phạm hiện nay tồn tại nguồn lực khoa học cơ bản khá mạnh nhưng chưa được khai thác đầy đủ. Nếu chỉ tập trung vào đào tạo giáo viên thì sẽ lãng phí nguồn lực này. Việc phát triển khoa học cơ bản không chỉ tận dụng đội ngũ hiện có mà còn là nền tảng để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên.
Trong thời gian gần đây, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã mở một số ngành đào tạo mới gắn với khoa học cơ bản và công nghệ. Nhà trường mong muốn nhận được sự hỗ trợ từ Bộ GD&ĐT đối với các chương trình mới này, bởi trong giai đoạn đầu rất khó áp dụng các tiêu chí về quy mô sinh viên để xác định mức hỗ trợ tài chính.
Hướng thứ ba là thúc đẩy giáo dục STEM ở bậc phổ thông. PGS.TS Nguyễn Đức Sơn cho biết, mặc dù hiện nay đã có nhiều chính sách khuyến khích học sinh lựa chọn các ngành STEM, nhưng hiệu quả sẽ lớn hơn nếu niềm đam mê và tư duy khoa học được hình thành ngay từ bậc phổ thông. Với vai trò đào tạo giáo viên, các trường sư phạm có thể đóng góp tích cực trong việc phát triển giáo dục STEM.
Đầu tư đồng bộ hạ tầng và thể chế
Liên quan đến khó khăn khi triển khai PGS.TS Nguyễn Đức Sơn bày tỏ trăn trở khi hạ tầng phòng thí nghiệm tại các trường sư phạm hiện còn khá hạn chế và lạc hậu so với các trường kỹ thuật, công nghệ. Với mức trần học phí hiện nay, các trường gần như không có nguồn lực để đầu tư phòng thí nghiệm mới, trong khi đây là điều kiện cần thiết để phát triển khoa học cơ bản.
Để triển khai nhiệm vụ liên quan đến phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đề xuất xây dựng ba phòng thí nghiệm chuyên sâu, gồm: Phòng thí nghiệm công nghệ gen; phòng thí nghiệm vật liệu mới; và phòng thí nghiệm điện tử - năng lượng. Tuy nhiên, các đề án này đang gặp nhiều khó khăn về nguồn lực đầu tư.
Vì vậy, nhà trường mong muốn nhận được sự hỗ trợ từ Bộ GD&ĐT hoặc Bộ Khoa học và Công nghệ để có thể triển khai. Đồng thời, PGS.TS Nguyễn Đức Sơn cũng mong muốn các chính sách về học bổng cho nghiên cứu sinh trong các lĩnh vực khoa học cơ bản và STEM sớm được cụ thể hóa thành quy định để các trường có cơ sở triển khai tuyển sinh và đào tạo.
Đưa đề xuất, PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng, các trường sư phạm cần được đầu tư đồng bộ về hạ tầng và thể chế. Trước hết là hệ thống phòng thí nghiệm giáo dục, phòng thí nghiệm STEM, các studio sản xuất học liệu số nhằm tạo môi trường nghiên cứu và thực nghiệm dạy học hiện đại. Thứ hai là cơ chế thu hút và phát triển đội ngũ giảng viên có năng lực nghiên cứu quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực như khoa học học tập, khoa học dữ liệu giáo dục và tâm lý học số.
Thứ ba là xây dựng các mạng lưới hợp tác nghiên cứu trong nước và quốc tế để kết nối các trường sư phạm với các trung tâm nghiên cứu giáo dục tiên tiến. Cuối cùng là hoàn thiện cơ chế tài chính, khung pháp lý cho hoạt động chuyển giao công nghệ giáo dục và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
“Nghị quyết số 71-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW có thể được xem như bước ngoặt quan trọng đối với sự phát triển của giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa tinh thần của nghị quyết phụ thuộc lớn vào vai trò dẫn dắt của các trường sư phạm. Với chức năng đào tạo giáo viên, phát triển tri thức giáo dục và nghiên cứu về con người trong quá trình học tập, các trường sư phạm có khả năng trở thành lực lượng tiên phong trong việc định hình tương lai của nền giáo dục quốc gia.
Nói cách khác, trong thời đại trí tuệ nhân tạo, các trường sư phạm không chỉ đào tạo người dạy học mà còn kiến tạo tri thức về cách con người học tập, phát triển và thích nghi với một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Chính từ những nghiên cứu tiên phong đó, các định hướng cải cách giáo dục mới có thể được hình thành, góp phần xây dựng một nền giáo dục Việt Nam sáng tạo, nhân văn và bền vững trong thế kỷ XXI”, PGS.TS Trần Thành Nam cho hay.
“Với định hướng phát triển dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, các trường sư phạm hoàn toàn có thể vừa thực hiện sứ mệnh đào tạo giáo viên, vừa tham gia sâu vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Đây không chỉ là yêu cầu thích ứng chính sách, mà còn là cơ hội để khẳng định vai trò chiến lược của khối sư phạm trong tiến trình phát triển bền vững của đất nước”, PGS.TS Võ Văn Minh khẳng định.