Tái cấu trúc mạng lưới trường học: Đo bằng chất lượng chứ không phải số lượng

GD&TĐ - Theo lộ trình, trước ngày 30/8/2026, các địa phương phải hoàn thành việc sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên để chuẩn bị cho năm học 2026 - 2027.

Trẻ mầm non Trường Mầm non Tây Hồ (Hà Nội). Ảnh: TG
Trẻ mầm non Trường Mầm non Tây Hồ (Hà Nội). Ảnh: TG

Đây được xem là bước tái cấu trúc mạng lưới giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, chất lượng giáo dục và bảo đảm quyền học tập, trong đó người học phải là đối tượng hưởng lợi nhiều nhất.

TS Vũ Thị Minh Huyền - Phòng Pháp chế và Kế hoạch tổng hợp, Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam: Không phải câu chuyện “gộp trường”, “giảm đầu mối”

do-bang-chat-luong-chu-khong-phai-so-luong3.jpg
TS Vũ Thị Minh Huyền.

Tôi cho rằng, điều quan trọng nhất là cần thay đổi cách tiếp cận khi nhìn nhận việc sắp xếp mạng lưới trường học. Đây không chỉ là câu chuyện “gộp trường”, “giảm đầu mối” hay “giảm biên chế” theo nghĩa hành chính, mà là tái cấu trúc hệ thống giáo dục theo hướng tinh gọn nhưng hiệu quả hơn, phục vụ người học tốt hơn.

Các văn bản chỉ đạo gần đây của Chính phủ và Bộ GD&ĐT cũng nhấn mạnh việc chuyển từ giảm đầu mối cơ học sang tái cấu trúc mạng lưới cơ sở giáo dục dựa trên quy mô dân số, phân bố dân cư và nhu cầu học tập thực tế.

Từ góc độ một viên chức đang công tác tại cơ sở giáo dục, tôi nhận thấy bất kỳ cuộc sắp xếp nào cũng chỉ thành công khi lấy người dân làm trung tâm. Trong giáo dục, đối tượng trung tâm là học sinh. Vì vậy, điều cần quan tâm không phải còn bao nhiêu trường học sau sắp xếp, mà là học sinh có được học trong điều kiện tốt hơn hay không, giáo viên có thêm điều kiện phát huy năng lực hay không và nguồn lực đầu tư của Nhà nước có được sử dụng hiệu quả hơn không.

Thực tế nhiều năm qua cho thấy, ở một số địa phương, quy mô trường lớp phân tán, số học sinh ít nhưng bộ máy quản lý vẫn cồng kềnh. Trong khi đó, tại các khu vực đô thị hóa nhanh, khu công nghiệp hoặc nơi dân số cơ học tăng mạnh lại xảy ra quá tải trường lớp. Nếu không mạnh dạn điều chỉnh, sự mất cân đối này sẽ tiếp tục kéo dài và ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Vì vậy, đợt sắp xếp lần này cần được xem là cơ hội để phân bổ lại nguồn lực, tập trung đầu tư cho chất lượng thay vì dàn trải theo đầu mối quản lý.

Tuy nhiên, không nên áp dụng một công thức chung cho mọi địa phương. Giáo dục có tính đặc thù cao. Mô hình phù hợp ở khu vực trung tâm chưa chắc phù hợp với miền núi, vùng sâu, vùng xa hoặc địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Có nơi sáp nhập trường sẽ nâng cao hiệu quả quản lý, nhưng cũng có nơi nếu làm máy móc sẽ khiến học sinh đi học xa hơn, gây khó khăn cho phụ huynh. Vì vậy, mọi phương án cần dựa trên khảo sát thực tế, đánh giá đầy đủ tác động và đặt lợi ích người học lên hàng đầu.

Điều tôi đặc biệt quan tâm là bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Mỗi quyết định sắp xếp phải được cân nhắc trên cơ sở quyền học tập của trẻ em. Nếu việc giảm đầu mối khiến học sinh vùng khó khăn phải đi học xa hơn nhiều km mỗi ngày thì cần có giải pháp hỗ trợ như bán trú, nội trú, phương tiện đưa đón hoặc duy trì các điểm trường phù hợp. Thành công của chủ trương không nằm ở số đầu mối giảm được bao nhiêu, mà ở chỗ không học sinh nào bị bỏ lại phía sau.

Bên cạnh đó, cần quan tâm đến tâm tư của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý. Khi thực hiện sắp xếp, nếu thông tin chưa đầy đủ hoặc lộ trình chưa rõ ràng thì tâm lý lo lắng là điều dễ hiểu. Vì vậy, các địa phương cần tăng cường đối thoại, công khai phương án thực hiện và có chính sách bố trí, sử dụng đội ngũ hợp lý. Khi giáo viên hiểu rõ ý nghĩa của chủ trương và nhìn thấy cơ hội phát triển trong mô hình mới, họ sẽ trở thành lực lượng đồng hành tích cực nhất.

Ở tầm xa hơn, đây cũng là cơ hội để đổi mới quản trị giáo dục. Việc hình thành các mô hình trường học có quy mô phù hợp, tăng cường ứng dụng công nghệ, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất và đội ngũ sẽ tạo nền tảng nâng cao chất lượng dạy học trong những năm tới. Đây cũng là định hướng của Chính phủ khi yêu cầu các địa phương hoàn thành việc sắp xếp trước năm học 2026 - 2027 để hệ thống vận hành ổn định, hiệu quả.

Theo tôi, nguyên tắc quan trọng nhất là mọi quyết định sắp xếp phải được đánh giá từ góc nhìn của người học. Trước khi sáp nhập, điều chuyển hay tổ chức lại mạng lưới trường lớp, cần trả lời rõ học sinh sẽ được hưởng lợi gì từ sự thay đổi đó.

Ngoài ra, cần bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng, duy trì sự liên tục trong học tập và lấy chất lượng giáo dục làm tiêu chí cốt lõi của toàn bộ quá trình tái cấu trúc. Đặc biệt, không để học sinh vùng khó khăn, học sinh yếu thế bị giảm cơ hội tiếp cận giáo dục.

Cuối cùng, nguyên tắc xuyên suốt cần được quán triệt là “sắp xếp để phát triển, không phải sắp xếp để thu hẹp”. Mục tiêu cuối cùng không phải giảm số lượng trường học, mà là tạo ra môi trường giáo dục tốt hơn cho người học.

TS Nguyễn Tùng Lâm - Phó Chủ tịch Hội Khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam: Đổi mới quản trị trường học sau sáp nhập

do-bang-chat-luong-chu-khong-phai-so-luong2.jpg
TS Nguyễn Tùng Lâm.

Sáp nhập trường học được coi là điểm khởi đầu của một mô hình quản trị mới. Khi quy mô nhà trường tăng lên, yêu cầu đặt ra là đổi mới phương thức điều hành, tăng cường phân quyền, chuẩn hóa quy trình và quản trị dựa trên dữ liệu.

Giảm đầu mối không đồng nghĩa khối lượng công việc quản lý giảm, bởi khi đó nhà trường không còn điều hành một cơ sở đơn lẻ mà là cả một mạng lưới. Quy mô càng lớn, yêu cầu về phối hợp, chia sẻ dữ liệu và chuẩn hóa quy trình càng cao.

Mục tiêu cuối cùng của việc sắp xếp mạng lưới trường học phải được đo bằng lợi ích của người học và việc bảo đảm quyền học tập của người dân. Sau sắp xếp, học sinh phải được học trong điều kiện tốt hơn, thụ hưởng cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và các dịch vụ giáo dục chất lượng hơn; đồng thời từng bước thu hẹp khoảng cách về cơ hội học tập giữa các vùng miền. Nếu chỉ giảm đầu mối quản lý mà chất lượng dạy học không được nâng lên thì mục tiêu tái cấu trúc chưa đạt.

Việc sắp xếp cũng cần gắn với tái phân bổ nguồn lực giáo dục. Đội ngũ, cơ sở vật chất, tài chính, đất đai và thiết bị dạy học phải được tính toán trên quy mô toàn hệ thống, khắc phục tình trạng nơi thừa, nơi thiếu, đồng thời bảo đảm các cơ sở giáo dục có đủ điều kiện thực hiện chương trình.

Để làm được điều đó, cần chuyển từ tư duy “sáp nhập trường” sang “thiết kế lại mạng lưới giáo dục”. Mỗi quyết định phải dựa trên dữ liệu về dân số, quy mô học sinh, điều kiện địa lý, nhu cầu học tập và năng lực đáp ứng của từng địa phương. Thành công không nằm ở số lượng trường được sáp nhập, mà ở việc hệ thống sau sắp xếp có hợp lý, công bằng, hiệu quả và phục vụ người học tốt hơn hay không.

Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, việc sắp xếp mạng lưới trường học cần gắn với đổi mới quản trị giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Theo đó, cần mạnh dạn trao quyền tự chủ, tạo điều kiện để các trường chủ động tổ chức hoạt động và chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục trước xã hội.

Tôi cho rằng Bộ GD&ĐT cần sớm trình Chính phủ, Quốc hội nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế để các trường công lập được thực hiện quyền tự chủ phù hợp. Khi được trao quyền và gắn với trách nhiệm giải trình, các trường sẽ chủ động hơn trong thu hút đội ngũ quản lý, giáo viên có năng lực, đồng thời phát huy hiệu quả các nguồn lực sẵn có. Đây cũng là tinh thần đổi mới quản trị theo hướng kiến tạo mà Nghị quyết 71 hướng tới.

Suy cho cùng, tái cấu trúc mạng lưới trường học chỉ có ý nghĩa khi tạo ra những thay đổi tích cực về chất lượng và hiệu quả giáo dục. Người học phải là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất, giáo viên có điều kiện làm việc tốt hơn và mọi người dân, ở bất cứ địa bàn nào, đều được bảo đảm quyền học tập.

Bà Châu Quỳnh Dao – đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang: Hướng tới hệ thống giáo dục hiệu quả hơn

do-bang-chat-luong-chu-khong-phai-so-luong5.jpg
Bà Châu Quỳnh Dao.

Theo tôi, sắp xếp mạng lưới trường học tại các địa phương không nên được nhìn nhận đơn thuần là việc giảm đầu mối, điều chỉnh địa giới hay tổ chức lại các cơ sở giáo dục. Đây là quá trình tái cấu trúc hệ thống giáo dục nhằm phân bổ lại nguồn lực, tổ chức lại không gian giáo dục và nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu học tập của người dân trong điều kiện phát triển mới.

Điều quan trọng nhất là phải xác định rõ: Sắp xếp trường học để phục vụ người học tốt hơn, chứ không phải để người học thích nghi với phương án sắp xếp hành chính. Mọi quyết định về quy mô trường, điểm trường, lớp học, đội ngũ giáo viên hay cơ sở vật chất đều cần được đánh giá từ tác động thực tế đối với học sinh và quyền học tập của người dân.

Một hệ thống trường học hợp lý phải bảo đảm học sinh được học trong môi trường an toàn, thuận lợi, có chất lượng; đồng thời tạo điều kiện để giáo viên phát huy chuyên môn và nguồn lực giáo dục được sử dụng hiệu quả hơn. Vì vậy, không thể áp dụng một mô hình sắp xếp chung cho mọi địa phương. Khu vực đô thị, miền núi, vùng sâu, vùng xa hay vùng đồng bào dân tộc thiểu số đều có đặc điểm dân cư, địa lý và nhu cầu giáo dục khác nhau.

Nếu quá trình tái cấu trúc giúp tập trung nguồn lực để nâng cấp cơ sở vật chất, tăng cường đội ngũ giáo viên, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng và thu hẹp bất bình đẳng trong thụ hưởng giáo dục thì đó mới là bước tiến thực chất.

Một vấn đề cần được đặt lên hàng đầu là bảo đảm quyền học tập của người dân. Quyền này phải được tính đến ngay từ khâu xây dựng phương án, không phải xử lý sau khi việc sắp xếp đã hoàn tất. Những khu vực khó khăn càng cần được quan tâm để không xảy ra tình trạng học sinh phải đi học xa hơn, phát sinh thêm chi phí và thời gian đến trường.

Tôi cũng cho rằng, đây là cơ hội để các địa phương chuyển từ tư duy quản lý từng trường sang quản trị mạng lưới giáo dục trên cơ sở dữ liệu về dân số, quy mô học sinh, nhu cầu học tập, đội ngũ và điều kiện cơ sở vật chất. Khi có dữ liệu đầy đủ, việc quyết định giữ, sắp xếp hay đầu tư cho từng cơ sở giáo dục sẽ có cơ sở khoa học và hiệu quả hơn.

Cuối cùng, thước đo của quá trình sắp xếp không nằm ở việc còn bao nhiêu trường hay giảm được bao nhiêu đầu mối, mà ở câu hỏi: sau tái cấu trúc, học sinh có được học tập tốt hơn, giáo viên có điều kiện làm nghề tốt hơn và người dân có được bảo đảm quyền học tập tốt hơn hay không. Nếu trả lời được những câu hỏi đó, việc sắp xếp mạng lưới trường học mới thực sự đạt mục tiêu và tạo ra giá trị lâu dài cho hệ thống giáo dục.

Nếu nhìn đúng bản chất, đây là bước chuyển quan trọng trong quá trình hiện đại hóa nền giáo dục Việt Nam. Mục tiêu không phải giảm số lượng trường học, mà xây dựng một hệ thống giáo dục chất lượng cao, công bằng, thích ứng tốt hơn với những thay đổi của xã hội và đáp ứng kỳ vọng ngày càng lớn của người dân. - TS Vũ Thị Minh Huyền.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ

Ảnh minh họa: GMN.

Cái nôi - Khúc ca ru êm dịu đầy thổn thức

GD&TĐ - Có những ký ức nằm sâu trong tiềm thức, chỉ cần một làn gió nhẹ thoảng qua hay một cái chạm khẽ của nỗi nhớ cũng đủ sức đánh thức cả một vùng trời thương nhớ. Bài thơ "Cái nôi" là một vùng ký ức như thế...