Đáng chú ý, dự thảo đã rà soát, bổ sung nguyên tắc chặt chẽ hơn trong đặt tên cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt với tên tiếng nước ngoài, giao dịch quốc tế và các phân hiệu.
Hạn chế hiểu nhầm
Theo PGS.TS Trần Xuân Nhĩ - Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, dự thảo quy định về tên gọi các cơ sở giáo dục đại học là cần thiết trong bối cảnh tuyển sinh ngày càng cạnh tranh, khi thí sinh và phụ huynh thường chịu tác động mạnh từ tên gọi và thương hiệu của nhà trường.
PGS.TS Trần Xuân Nhĩ cho rằng, việc đặt ra nguyên tắc, điều kiện rõ ràng đối với tên tiếng Việt, tiếng nước ngoài, giao dịch quốc tế và phân hiệu sẽ góp phần tăng tính minh bạch, hạn chế tình trạng gây hiểu nhầm hoặc đánh lừa người học. Trên thực tế, đã xuất hiện những cơ sở sử dụng tên gọi dễ tạo cảm giác quốc tế hóa hoặc học thuật cao, trong khi năng lực đào tạo, thẩm quyền cấp bằng và chất lượng không tương xứng.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Trần Xuân Nhĩ, việc quản lý tên gọi cần được thực hiện với cách tiếp cận linh hoạt. Nếu quy định quá cứng nhắc, áp dụng máy móc, có thể vô tình làm hạn chế quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học trong xây dựng và phát triển thương hiệu, nhất là với trường đã có uy tín học thuật hoặc mạng lưới hợp tác quốc tế ổn định.
Cùng với việc chuẩn hóa tên trường, PGS.TS Trần Xuân Nhĩ đề xuất, cơ quan quản lý cần tập trung nhiều hơn vào việc siết chặt công tác kiểm định chất lượng, xây dựng hệ thống tiêu chí rõ ràng, minh bạch và tổ chức đánh giá một cách nghiêm túc, thực chất, tránh hình thức. Chỉ khi chất lượng đào tạo được đặt ở vị trí trung tâm, tên gọi của cơ sở giáo dục đại học mới thực sự phản ánh đúng giá trị và uy tín, góp phần xây dựng niềm tin bền vững đối với xã hội.
Bước đi cần thiết
Với quy định cụ thể về đặt tên cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt tên tiếng nước ngoài, giao dịch quốc tế và phân hiệu, ông Lê Tuấn Tứ - đại biểu Quốc hội khóa XIV nhận định, đây là bước đi cần thiết và đúng hướng trong bối cảnh hệ thống giáo dục đại học Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng.
Quy định rõ ràng về tên tiếng nước ngoài và tên giao dịch quốc tế cũng giúp bảo vệ uy tín của hệ thống giáo dục Việt Nam trên trường quốc tế, tránh hiện tượng “quốc tế hóa hình thức” nhưng không tương xứng về năng lực thực chất.
Bên cạnh đó, các quy định cần được thiết kế theo hướng linh hoạt, có lộ trình. Nếu áp dụng cứng nhắc, thiếu cơ chế chuyển tiếp phù hợp, có thể phát sinh chi phí điều chỉnh lớn và ảnh hưởng đến hoạt động đối ngoại, tuyển sinh quốc tế.
Đối với tên phân hiệu, ông Lê Tuấn Tứ đồng thuận yêu cầu làm rõ mối quan hệ pháp lý với cơ sở chính, song đề xuất cần hướng dẫn cụ thể hơn về cách đặt tên để vừa bảo đảm thống nhất quản lý, vừa tạo điều kiện cho các phân hiệu phát huy vai trò phục vụ phát triển vùng. “Quản lý chặt rất cần thiết, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học phát triển bền vững, minh bạch và hội nhập hiệu quả”, ông Lê Tuấn Tứ nhấn mạnh.
Theo TS Hoàng Xuân Hiệp – Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, tên gọi không chỉ là yếu tố nhận diện mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của người học, đối tác và xã hội. Việc chuẩn hóa tên trường sẽ góp phần hạn chế tình trạng sử dụng tên gọi dễ gây hiểu nhầm về trình độ đào tạo, tính chất hoặc phạm vi hoạt động của cơ sở giáo dục đại học.
Tuy nhiên, dự thảo Nghị định tránh can thiệp quá sâu vào quyền tự chủ của nhà trường. Tên gọi, đặc biệt tên giao dịch quốc tế, cần bảo đảm tính chính xác, phù hợp pháp lý, đồng thời tạo không gian để các cơ sở giáo dục đại học xây dựng bản sắc và chiến lược thương hiệu riêng. Sự hài hòa giữa quản lý Nhà nước và quyền tự chủ sẽ là yếu tố quyết định để chính sách đi vào thực tiễn hiệu quả.
Đại diện lãnh đạo Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT) cho biết, dự thảo Nghị định đã rà soát, bổ sung hệ thống nguyên tắc chặt chẽ hơn đối với việc đặt tên cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt tên tiếng nước ngoài, giao dịch quốc tế và phân hiệu.
Dự thảo nhấn mạnh, tên cơ sở giáo dục đại học “không được gây nhầm lẫn về loại hình, tính chất sở hữu, phạm vi hoạt động, cơ quan quản lý, chất lượng hoặc vị thế của cơ sở giáo dục đại học; không sử dụng từ ngữ thể hiện danh hiệu, thứ hạng”. Đồng thời, tên tiếng nước ngoài hoặc giao dịch quốc tế “phải dịch tương đương từ tên tiếng Việt; không được làm tăng mức độ, vị thế hoặc loại hình so với tên tiếng Việt”.
Đáng chú ý, lần đầu tiên dự thảo quy định cụ thể việc đặt tên phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam và phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.
Theo đó, tên phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài bắt buộc phải thể hiện rõ tên cơ sở giáo dục đại học, quốc gia nơi cơ sở được thành lập và cụm từ “Phân hiệu” kèm theo địa danh, đồng thời “không được sử dụng tên hoặc từ ngữ có thể gây hiểu nhầm là cơ sở công lập, cơ sở quốc gia hoặc cơ sở được Chính phủ Việt Nam bảo trợ”. Các quy định này nhằm tránh gây nhầm lẫn về tư cách pháp lý, vị thế và thẩm quyền cấp bằng, qua đó tăng cường tính minh bạch đối với người học và xã hội.
Theo ông Lê Tuấn Tứ, việc chuẩn hóa tên gọi sẽ góp phần tăng tính pháp lý, hạn chế tình trạng đặt tên tùy tiện, gây hiểu nhầm về địa vị pháp lý, quy mô và chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học.