Cảm thụ văn học: Tiếng vọng của đợi chờ

GD&TĐ - Trong dòng chảy của văn học hiện đại Việt Nam, tản văn tựa như những thước phim quay chậm của kí ức.

Minh họa/INT.
Minh họa/INT.

Thể loại này luôn chiếm một vị trí đặc biệt bởi khả năng kết nối trực tiếp tâm hồn tác giả với độc giả thông qua những câu chuyện đời thường và lối viết giàu cảm xúc.

​Huỳnh Như Phương, bằng ngòi bút điềm tĩnh, giàu chất triết lý và đầy trắc ẩn, đã mang đến cho chúng ta áng tản văn “Người ngồi đợi trước hiên nhà”. Tác phẩm không đơn thuần là một câu chuyện kể về người dì đợi chồng đi tập kết, mà nó còn là một tượng đài bằng ngôn ngữ để tôn vinh những người phụ nữ Việt Nam bình dị – những người đã dành cả thanh xuân và cuộc đời để đánh đổi lấy hai chữ “hòa bình”.

Giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Như Phương sinh ra và lớn lên ở Mộ Đức, Quảng Ngãi – một vùng đất giàu truyền thống văn hóa và cách mạng. Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến tâm hồn nhân hậu và những trang viết đậm chất hoài niệm của ông. Dù là nhà khoa học, nhưng khi viết tản văn, ngòi bút của ông lại trở nên mềm mại, đầy ắp tình cảm với những kỷ niệm gia đình, nỗi khát khao hòa bình Bắc Nam sum họp.

Đời thường nhưng đầy ám ảnh

“Người ngồi đợi trước hiên nhà” lấy bối cảnh một giai đoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc. Đó là cuộc chia ly đầy xúc động sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, khi đất nước chia làm hai miền, vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời Nam - Bắc trước khi hiệp thương thống nhất đất nước vào giữa năm 1956. Đọc trang văn, tất cả vẫn như đang hiện lên rõ nét: “Cuối năm 1954, ở quê tôi gần một nửa gia đình có người thân đi tập kết ra miền Bắc. Không khí làng quê chùng xuống vì tình cảnh kẻ Bắc người Nam”.

Người đọc như trở về với nỗi đau chia cắt và thân phận con người trong một bối cảnh lịch sử thật cụ thể. Ở đó có những người vợ, người mẹ tiễn chồng tiễn con ra đi, mắt đẫm lệ, hẹn hai năm trở về mà lòng còn nghi ngại, để rồi phải đối mặt với cảnh “ngày Bắc đêm Nam”.

Dì Bảy và dượng Bảy trong tác phẩm cũng là đại diện cho hàng ngàn cặp vợ chồng trẻ thời bấy giờ. Họ cưới nhau vỏn vẹn được 30 ngày thì người chồng lên đường tập kết. “Mới một tháng trước đó, nhà tôi rộn rã với đám cưới của dì Bảy… Chỉ một tháng sau là đơn vị chuyển đi, đôi người đôi ngả”. Một tháng mặn nồng đổi lấy hai mươi năm đằng đẵng đợi chờ. Tác giả đã đặt nhân vật vào một tình huống đầy bi kịch, oái oăm nhưng lại rất phổ biến trong chiến tranh, từ đó làm nổi bật lên sức mạnh nội tâm của con người.

Tác giả Huỳnh Như Phương đã đặt tên cho tác phẩm của mình một nhan đề có sức gợi rất lớn: “Người ngồi đợi trước hiên nhà”. Không gian hiên nhà - một không gian cụ thể, quen thuộc, hữu hình gắn với cuộc đời của dì Bảy và bao nhiêu người vợ, người mẹ Việt Nam. Ở đây, hiên nhà là ranh giới giữa cái riêng tư (trong nhà) và cái chung (ngoài ngõ).

Ngồi ở hiên nhà là để hướng tầm mắt ra xa, để đón đợi những bước chân trở về. Đây cũng là nơi chứng kiến niềm vui sum họp, đây cũng là nơi chứng kiến những bước chân đi xa. Trong tác phẩm, hiên nhà còn gợi ra sự tĩnh lặng, yên ắng, một không gian đậm chất nghệ thuật, gắn với biểu tượng của sự chờ đợi.

Nơi hiên nhà lặng lẽ in bóng thời gian ấy có hình ảnh dì Bảy ngồi đó, ngày này qua tháng khác, tạo nên một sự tương phản đậm nét với sự xoay vần hối hả của thời gian và sự tàn khốc của bom đạn ngoài kia. Hiên nhà cũng có thể được hiểu là hình bóng của hậu phương, của quê hương yêu dấu trong tâm thức của những người con xa quê luôn đau đáu muốn trở về.

Nhưng rõ ràng, cái “ngồi đợi” của dì không phải là sự chờ đợi thụ động, yếu đuối, vô thức. Cái “ngồi đợi” trước hiên nhà ấy là một sự lựa chọn. Mỗi ngày ngồi trước hiên, dì đang thực hiện một “nghi lễ” của lòng thủy chung son sắt. Cái ngồi đợi ấy từ khi dì còn là người phụ nữ rực rỡ xuân thì đến hao gầy, mòn mỏi theo năm tháng. Hiên nhà ấy đã chứng kiến đôi mắt dì từ tinh anh đến khi mờ đục, chứng kiến mái tóc từ xanh đen chuyển sang màu mây trắng.

Nhân vật trung tâm nơi hiên nhà đằng đẵng ấy là một người phụ nữ rất cụ thể, thân thuộc. Đó là dì Bảy - dì của nhân vật tôi - Lê Thị Thỏa nhưng được gọi theo tên người chồng theo phong tục của miền quê Nam Bộ – được tác giả khắc họa qua những chi tiết đời thường nhưng đầy ám ảnh.

Trước hết đó là người phụ nữ Nam Bộ chân chất, mộc mạc. Dì kết hôn với dượng Bảy bằng một tình cảm chân thành. Dượng mồ côi cả cha mẹ, đi bộ đội, đóng quân ở làng dì, thầm yêu dì. Tình cảm nảy nở tự nhiên như là lá, là hoa giữa cuộc chiến của dân tộc rồi được đơn vị đứng ra làm lễ cưới giản đơn nhưng ấm nồng.

cam-thu-van-hoc-tieng-vong-cua-doi-cho.png
Phụ nữ Việt Nam là những 'anh hùng thầm lặng', không cầm súng trên chiến trường nhưng lại gánh chịu những vết thương lòng sâu sắc nhất. Ảnh minh họa từ AI.

Nốt lặng cuối cùng

Cũng giống như nhiều mối tình trong một thời kỳ lịch sử, như tình yêu đôi lứa trong “Quê hương” của nhà thơ Giang Nam hay “Cuộc chia ly màu đỏ” của Nguyễn Mỹ… cuộc sống vợ chồng giữa họ chỉ trong vài ngày ngắn ngủi so với thời gian đằng đẵng của một đời người. Khi dượng Bảy đi xa, dì tròn 20 tuổi, đang ở tuổi đẹp nhất của người con gái độ xuân sắc.

Suốt 20 năm sau đó, có những người ngỏ ý, dạm hỏi, dì vẫn không lung lạc, mà vẫn lắc đầu khước từ. Sự khước từ ấy không chỉ là vì đạo nghĩa vợ chồng, mà còn vì một niềm tin mãnh liệt rằng dượng sẽ trở về: “Ra miền Bắc rồi vào lại miền Nam chiến đấu, dượng tôi vẫn tìm cách liên lạc với gia đình. Thỉnh thoảng một lá thư gói trong bọc ni-lông bé tí chuyển đến nhà tôi giữa đêm khuya”.

Những lá thư từ miền Bắc gửi về qua đường dây bí mật mang theo tin tức của dượng như một niềm hy vọng đáp lại nỗi trông chờ mòn mỏi của dì. Đó là nguồn sống duy nhất, là sự kết nối tình yêu Bắc Nam vẹn tròn. Những cánh thư đi về trong bao niềm thương nhớ cũng chính là kỷ vật, là chứng tích cho tình cảm đẹp đẽ, thiêng liêng họ dành cho nhau. Tác giả miêu tả việc dì nâng niu những bức thư ấy như những báu vật.

Dù thời gian ngăn cách, khoảng cách địa lý xa xôi, nhưng sợi dây tình cảm ấy chưa bao giờ đứt đoạn. Những cánh thư thầm mang trên mình nó một sứ mệnh lớn lao. Niềm tin sắt son ấy đã giúp dì vượt qua khó khăn, hiểm nguy, chăm sóc mẹ cha, lo toan việc nhà trong bổn phận của một người con hiếu thảo, một người vợ đảm đang.

Dì sống cuộc đời của mình thông qua cuộc đời của người khác, lấy niềm vui của gia đình làm niềm vui của chính mình. Và sự chờ đợi của dì càng trở nên lớn hơn bao giờ hết khi “gần cuối cuộc chiến tranh, tin nhắn của dượng về nhà thường xuyên hơn. Hình như lời cầu nguyện của dì linh ứng để dượng tránh hòn tên mũi đạn nơi chiến trường”.

Thế nhưng, sự chờ đợi 20 năm trời đằng đẵng của dì không có câu trả lời như mong ước. Chiến tranh với những bi kịch đau đớn đã trở thành nốt lặng cuối cùng và đưa người đọc đến những miền cảm xúc. Đỉnh điểm của sự xúc động nằm ở khoảnh khắc hòa bình lập lại. Thông thường, một câu chuyện đợi chờ sẽ có kết thúc có hậu khi người đi trở về. Nhưng câu chuyện tác giả Huỳnh Như Phương kể lại có một sự thật nghiệt ngã hơn, thực tế hơn.

Tháng 4/1975, dượng ngã xuống trong trận đánh ở Xuân Lộc, cửa ngõ phía Đông Bắc Sài Gòn, chỉ mươi ngày trước khi chiến tranh ngưng tiếng súng. Dượng Bảy không trở về, dượng đã ngã xuống trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. “Như trong một câu chuyện cổ, người kỵ sĩ ra đi trên lưng chiến mã, nhưng ngày chiến thắng chỉ có chiến mã trở về mà không bóng dáng người trên lưng ngựa. Dì tôi nén nỗi đau vào bên trong. Nhà tôi lập bàn thờ cho dượng”.

Chi tiết này giống như một nhát dao cắt vào lòng độc giả. Dì Bảy đã đợi hai mươi năm, và khi hòa bình đến, điều dì nhận được không phải là một vòng tay ôm, mà là một tin báo tử. Sự đợi chờ của dì giờ đây trở thành vĩnh cửu. “Mỗi ngày, sau khi đi làm đồng trở về, dì tôi thường ngồi trên bộ phản gõ ngoài hiên nhìn ra con ngõ, nơi ngày xưa dượng cùng những người đồng đội lần đầu đến nhà tôi xin chỗ trú quân”.

Tác giả viết về nỗi đau này một cách rất kìm nén. Không có tiếng khóc than nức nở, chỉ có hình ảnh dì vẫn tiếp tục sống, vẫn tiếp tục giữ gìn ký ức về dượng. Chính sự kìm nén ấy lại có sức công phá mạnh mẽ vào cảm xúc của người đọc, khiến chúng ta phải suy ngẫm về cái giá của hòa bình trong cuộc sống hôm nay.

Hồi ức và tưởng tượng kết nối xưa và nay, quá khứ và hiện tại thấp thoáng ẩn hiện trong những dòng tản văn của Huỳnh Như Phương bằng ngôn ngữ của sự chân thành khiến bạn đọc nhận ra nỗi ngậm ngùi trước thời gian trôi đi. Mỗi một trang tản văn đều chất chứa những tình cảm sâu sắc, nỗi trăn trở của người viết về các vấn đề của đời sống chính trị, xã hội, con người.

Trong đời sống đầy biến động ấy, “Người ngồi đợi trước hiên nhà” đã truyền vào lòng người đọc những rung cảm sâu xa. Con người hiểu về cuộc sống hơn, với những điều đúng sai, phải trái. Từ trong tản văn, con người biết yêu cuộc sống này hơn, yêu cả những điều nhỏ nhặt mà bấy lâu nay văn học dường như không đề cập đến.

Nhà văn, bằng sự nhạy cảm của tâm hồn đã thấu hiểu sâu sắc các vấn đề của đời sống xã hội; chia sẻ với độc giả tất cả những gì tự mình trải qua, tự mình cảm thấy trong nội tâm của mình. Ông đã khắc họa cuộc đời bằng chính những rung động của một trái tim chân thật, một sự trải nghiệm độc đáo, tỉnh táo ở từng trang viết.

Bên cạnh lối ngôn ngữ trầm lặng mà không kém phần sâu sắc, tác phẩm còn có sự đóng góp của một giọng văn điềm tĩnh, khách quan nhưng giàu cảm xúc. Huỳnh Như Phương không dùng những từ ngữ đao to búa lớn. Ông kể chuyện như thể đang lật giở những trang nhật ký cũ. Chính thái độ trân trọng, nâng niu từng chi tiết đắt giá đã tạo nên sức truyền cảm cho văn bản.

Hình ảnh chiếc nón lá, những lá thư cũ, hay dáng ngồi của dì trước hiên... tất cả đều được chọn lọc để khắc họa đậm nét chủ đề của tác phẩm. Đó còn là sự kết hợp giữa lối tự sự và trữ tình. Yếu tố kể chuyện giúp người đọc hình dung được dòng chảy thời gian và các sự kiện, trong khi yếu tố trữ tình giúp chúng ta thấu cảm được những rung động thầm kín trong trái tim nhân vật.

Qua áng tản văn “Người ngồi đợi trước hiên nhà”, Huỳnh Như Phương không chỉ muốn nhắc lại một câu chuyện buồn của quá khứ. Ông muốn chúng ta – những người đang sống trong bình yên – biết trân trọng những giá trị đạo đức truyền thống không bao giờ cũ. Đó là giá trị về lòng thủy chung, về sự hy sinh đến tận cùng của người phụ nữ, về giá trị to lớn của hòa bình. Trong một thế giới hiện đại đầy biến động, lòng thủy chung của dì Bảy như một điểm tựa tinh thần, nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự bền bỉ trong tình yêu.

Cũng vì thế, tác phẩm là một nén tâm nhang thành kính dâng lên những người phụ nữ Việt Nam. Họ là những “anh hùng thầm lặng”, không cầm súng trên chiến trường nhưng lại gánh chịu những vết thương lòng sâu sắc nhất. Câu chuyện còn nhắc nhở chúng ta rằng mỗi tấc đất ta đang đứng, mỗi phút giây yên bình ta đang có đều được xây đắp bằng sự đợi chờ và mất mát của những người đi trước.

Kết thúc tản văn, hình ảnh dì Bảy ngồi trước hiên nhà vẫn còn đọng lại mãi trong tâm trí độc giả. Đó không còn là dáng ngồi của một cá nhân, mà là dáng ngồi của cả một thế hệ, một dân tộc. Dì Bảy đã già, nhưng niềm tin và tình yêu của dì thì mãi mãi xanh trẻ. Mỗi trang sách là một cuộc đời rất thật.

Tác phẩm của Huỳnh Như Phương đã thực hiện xuất sắc sứ mệnh của văn chương là lưu giữ những vẻ đẹp lấp lánh giữa cuộc đời trần trụi và nhắc nhở con người sống nhân văn hơn. Hy vọng rằng những trang sách này sẽ được các em học sinh nói riêng và bao bạn đọc đón nhận.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ