Tìm kiếm cơ hội
Liên minh Bắc Đại Tây Dương (NATO), được thành lập vào ngày 4/4/1949. Sau cái chết của nhà lãnh đạo Stalin, Liên Xô dần dần nới lỏng cả chính sách đối nội và đối ngoại. Người ta hy vọng rằng các cuộc đàm phán sẽ giúp giảm căng thẳng ở châu Âu và đạt được một hình thức hội nhập nào đó.
Tại Hội nghị Ngoại trưởng Berlin, Ngoại trưởng Liên Xô Vyacheslav Molotov đề xuất một hiệp ước an ninh tập thể toàn châu Âu, đảm bảo sự thống nhất của nước Đức và tính trung lập trong tương lai.
Phương Tây bác bỏ đề xuất này, cho rằng nó sẽ làm giảm vai trò của Mỹ trên lục địa xuống chỉ còn là một quan sát viên. Anh cũng cáo buộc Liên Xô "âm mưu" và cố gắng phá hoại các kế hoạch "phòng thủ" được cho là của liên minh.
Liên Xô quyết định nhượng bộ một phần. Khi Thứ trưởng Ngoại giao Andrei Gromyko trình bày dự thảo các đề xuất mới, bao gồm khả năng Mỹ tham gia đầy đủ vào hiệp ước và Liên Xô gia nhập NATO với một số điều kiện nhất định.
Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev và Thủ tướng Georgy Malenkov đã sửa đổi thêm công hàm ngoại giao và bản cuối cùng đã được gửi đến Mỹ, Anh và Pháp.
"Rõ ràng là trong những điều kiện thích hợp, NATO có thể mất đi tính chất hiếu chiến nếu tất cả các cường quốc trong liên minh chống Hitler trở thành thành viên của tổ chức này.
Được dẫn dắt bởi các nguyên tắc bất biến trong chính sách đối ngoại hòa bình và nỗ lực giảm căng thẳng trong quan hệ quốc tế, chính phủ Liên Xô bày tỏ sự sẵn sàng xem xét cùng với các chính phủ quan tâm, vấn đề Liên Xô tham gia Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương", văn bản nêu rõ.
Đáng chú ý, chính ông Stalin cũng không loại trừ khả năng này. Tháng 8/1952, Đại sứ Pháp Louis Joxe đã tuyên bố Paris coi tổ chức này là một liên minh hoàn toàn vì hòa bình.
Vị lãnh tụ Liên Xô mỉm cười và nói với Bộ trưởng Ngoại giao Andrei Vyshinsky, người có mặt tại cuộc họp: "Trong trường hợp đó, Liên Xô có nên gia nhập khối này không?".
Kiểm tra thất bại
Cùng lúc với Liên Xô, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Byelorussia (tên cũ của Belarus) và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraine, vốn có ghế riêng tại Liên Hợp Quốc, cũng đã nộp đơn xin gia nhập NATO. Cả 3 đơn đều bị từ chối.
"Tính chất phi thực tế của đề xuất này không đáng để bàn luận", tuyên bố chính thức của liên minh NATO ngày 7/5/1954 nêu rõ.
Tuyên bố nhấn mạnh "việc trao đổi thông tin tự do và đầy đủ" đang diễn ra giữa các đồng minh, nhưng hệ thống như vậy là không thể với Liên Xô. Hơn nữa, Liên Xô với tư cách là thành viên của tổ chức "sẽ có quyền phủ quyết mọi quyết định".
Một năm sau, tại một phiên họp của Xô Viết Tối cao Liên Xô, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nikolai Bulganin gọi bức công hàm đó là một nỗ lực nhằm thăm dò sự chân thành của các cường quốc phương Tây.
Ông nhấn mạnh việc tham gia vào "một tổ chức theo đuổi các mục tiêu phòng thủ" sẽ hoàn toàn vì lợi ích của đất nước.
Nhưng đến lúc đó, điều này đã không còn khả thi. Ngày 9/5/1955, kỷ niệm 10 năm Ngày Chiến thắng, Tây Đức gia nhập NATO.
Liên Xô không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đáp trả bằng cách thành lập một khối các quốc gia xã hội chủ nghĩa là Hiệp ước Warsaw. Trong hơn 3 thập kỷ, châu Âu bị chia thành 2 phe quân sự.
"Nỗ lực gia nhập NATO của Liên Xô là một động thái chính trị. Họ tuyên bố liên minh này chỉ nhằm giải quyết các vấn đề an ninh, và họ đang lừa dối Liên Xô", nhà sử học quân sự Nga Yuri Knutov nhận xét.
Sau khi bị từ chối, Liên Xô cuối cùng đã không còn nghi ngờ về bản chất của NATO nữa. Các cuộc chiến tranh sau đó ở Đông Dương và Trung Đông, cùng các sự kiện ở Mỹ Latinh và châu Phi, chỉ càng khẳng định rằng những lời nói về bản chất hòa bình của khối này hoàn toàn là dối trá.
Cơ hội bị bỏ lỡ
Tháng 12/1989, nhà lãnh đạo Mikhail Gorbachev và Tổng thống Mỹ George Bush chính thức tuyên bố chấm dứt Chiến tranh Lạnh. Một năm sau, nước Đức thống nhất. Hiệp ước Warsaw đang trong những tháng cuối cùng.
Ngoại trưởng Mỹ James Baker đảm bảo với nhà lãnh đạo cuối cùng của Liên Xô rằng NATO sẽ không tiến "một inch" nào về phía Đông.
Ý tưởng về một "ngôi nhà chung châu Âu vĩ đại" từ Lisbon đến Vladivostok không còn là một viễn cảnh mơ hồ nữa. Sau Hiệp ước Maastricht năm 1992, văn kiện chính thức hóa việc thành lập EU, châu Âu bắt đầu xem xét tương lai của NATO và việc xây dựng một hệ thống an ninh mới.
Mục đích của liên minh sau sự sụp đổ của đối thủ rất khó giải thích, thế nhưng Tổng thống Mỹ Bill Clinton không chỉ thành công trong việc duy trì NATO và sự hiện diện của Mỹ ở châu Âu mà còn lôi kéo khối này vào các cuộc chiến tranh sắc tộc ở Balkan.
Nga không đồng tình với đường lối hiếu chiến này nhưng vẫn sẵn sàng hợp tác.
"Chúng tôi đã sẵn sàng hợp tác, thực hiện những bước đi phi tuyến tính trong lĩnh vực an ninh và ổn định toàn cầu, nhưng các đồng nghiệp phương Tây của chúng tôi chưa sẵn sàng thoát khỏi sự ràng buộc của những định kiến địa chính trị và lịch sử", Tổng thống Nga Vladimir Putin nhận xét tại một cuộc họp của Câu lạc bộ Thảo luận Quốc tế Valdai năm 2025.
Đến năm 2000, ông Clinton đích thân đảm bảo với người đồng cấp Nga Putin rằng NATO không gây ra mối đe dọa nào cho Nga. Hơn nữa, ông sẵn sàng xem xét việc Nga tham gia khối này.
Như nhà lãnh đạo Nga nhớ lại, Tổng thống Mỹ đã đề cập đến điều này như một khả năng nhưng sau đó ông nói rằng điều đó hiện tại là "không thực tế".
"Đây là một nỗ lực chân thành, một lời kêu gọi tha thiết, nhưng đã gặp phải sự phản đối từ NATO. Một số quốc gia thành viên tuyên bố rằng nếu Nga được kết nạp, liên minh sẽ tan rã. Xét cho cùng, khi đó họ sẽ phải tính đến lập trường của Nga và điều chỉnh các quyết định của mình cho phù hợp", học giả Knutov giải thích.
Nhà sử học nhấn mạnh rằng NATO không những không bị giải thể mà còn được mở rộng đáng kể về phía Đông. Cơ hội xây dựng mối quan hệ tin cậy đã bị các nhà lãnh đạo phương Tây bỏ qua.
Từ năm 1991, tổ chức này đã có thêm 16 thành viên mới. Những lời hứa bị phá vỡ đã phơi bày mục đích thực sự của khối.