Việt Nam tham dự APAIE 2026: Khẳng định thương hiệu quốc gia

GD&TĐ - Lần đầu tiên xuất hiện tại APAIE với tư cách Gian hàng quốc gia, giáo dục Việt Nam khẳng định vị thế và những bước tiến của giáo dục đại học trên bản đồ học thuật thế giới.

Ảnh minh họa INT.
Ảnh minh họa INT.

Qua đó cho thấy vai trò của ngoại giao văn hóa, giáo dục và tri thức trong chiến lược nâng tầm giáo dục Việt Nam thời kỳ hội nhập.

* Bà Châu Quỳnh Dao – Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang: Giáo dục đại học ghi dấu ấn trên trường quốc tế

khang-dinh-thuong-hieu-quoc-gia-1.jpg
Bà Châu Quỳnh Dao.

Thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á và 1 cơ sở thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực, giáo dục đại học Việt Nam đang nỗ lực nâng cao chất lượng, đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Những kết quả xếp hạng đại học năm 2025 đã phản ánh rõ xu hướng tiến bộ đó.

Bảng xếp hạng QS World University Rankings (QS WUR) do tổ chức giáo dục Quacquarelli Symonds (Vương quốc Anh) xây dựng là một trong ba bảng xếp hạng đại học uy tín hàng đầu thế giới. Trong khu vực Đông Nam Á, năm 2025 có 84 cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng; Malaysia dẫn đầu với 28 cơ sở, tiếp đến Indonesia (26), Thái Lan (13), Việt Nam (6), Philippines (5), Singapore (4) và Brunei (2).

Việt Nam có 6 cơ sở giáo dục đại học nằm trong bảng xếp hạng QS WUR 2025; đồng thời có 17 trường được xếp hạng trong danh sách bảng xếp hạng các trường đại học châu Á, tăng 2 trường so với năm 2024. Hai cơ sở lần đầu góp mặt trên bảng xếp hạng quốc tế là: Trường Đại học Vinh và Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh. Các cơ sở được xếp hạng đã phân bố trên 6 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế và Vinh.

Đáng chú ý, trong năm 2025 có 10 cơ sở đào tạo tăng hạng và 5 cơ sở đào tạo được chuyển xuống các thứ hạng thấp hơn. Đặc biệt, điểm trung bình của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam đều tăng ở nhiều chỉ số, nhất là hiệu quả hợp tác quốc tế và số trích dẫn trên mỗi bài báo khoa học. Hiện, Việt Nam đứng thứ 15/25 quốc gia châu Á được QS xếp hạng.

Trong bảng xếp hạng QS Asia University Rankings, năm 2025, Việt Nam có 17 cơ sở giáo dục đại học góp mặt. Theo đó, Đại học Duy Tân là cơ sở giáo dục đại học Việt Nam có thứ hạng cao nhất, đứng ở vị trí 127. Tiếp theo là Đại học Quốc gia Hà Nội (161) và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (184). Trong số các cơ sở lần đầu góp mặt, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh được xếp hạng vào nhóm 701-750, còn Trường Đại học Vinh nhóm 851-900.

Ở bảng xếp hạng QS theo ngành, Việt Nam có 9 cơ sở đại học được xếp hạng tại 25 ngành học. Đặc biệt, có 3 ngành lọt top 100 thế giới, gồm ngành Kỹ thuật dầu khí của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; ngành Khách sạn và Giải trí của Đại học Duy Tân và ngành Nghệ thuật trình diễn của Trường Đại học Văn Lang. Đây là những tín hiệu cho thấy, chất lượng đào tạo có trọng điểm, thế mạnh của một số cơ sở giáo dục đại học trong nước đang từng bước được ghi nhận trên trường quốc tế.

Cùng với QS, THE World University Rankings là bảng xếp hạng danh tiếng, đánh giá các cơ sở giáo dục đại học trên toàn cầu dựa trên nghiên cứu những nhiệm vụ cốt lõi của một trường đại học gồm giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao kiến thức và triển vọng quốc tế.

Năm 2025, Việt Nam đạt thành tích nổi bật nhất từ trước đến nay với 9 cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng. Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh lần đầu tham gia nhưng đã đứng ở nhóm 501-600, thứ hạng cao nhất trong các cơ sở được xếp hạng. Tiếp đó là Đại học Duy Tân và Trường Đại học Tôn Đức Thắng, cùng thuộc nhóm 601-800. Đáng chú ý, lần đầu tiên Trường Đại học Y Hà Nội và Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh được ghi danh, lần lượt nằm trong nhóm 801-1.000 và 1.201-1.500.

Những kết quả trên cho thấy giáo dục đại học Việt Nam hiện diện ngày càng rõ nét hơn trên bản đồ giáo dục đại học thế giới. Thành tích này có được nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục và khoa học - công nghệ, thể hiện qua các nghị quyết quan trọng như: Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 71-NQ/TW.

Việc áp dụng các công cụ đánh giá tiên tiến, xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong và hình thành văn hóa chất lượng đã trở thành động lực giúp nhiều trường nâng cao năng lực cạnh tranh. Nhất là những nỗ lực của chính các nhà trường từ mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường công bố khoa học, đầu tư cơ sở vật chất đến đổi mới chương trình đào tạo đã góp phần tạo ra những thay đổi thực chất.

Để bắt kịp các đại học hàng đầu thế giới, các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam, cần nỗ lực trong đổi mới mô hình quản trị, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu, mở rộng hợp tác quốc tế, thúc đẩy hội nhập chất lượng. Xếp hạng không phải mục tiêu, mà là công cụ và tiêu chí để đối sánh, học hỏi, hoàn thiện; từ đó nâng cao chất lượng theo chuẩn mực quốc tế.

Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phát triển giáo dục đại học theo hướng chất lượng, hiệu quả và hội nhập sâu rộng. Những kết quả tích cực từ các bảng xếp hạng là cơ sở quan trọng để tin tưởng rằng, với quyết tâm chính trị và sự đồng hành của toàn hệ thống, giáo dục đại học Việt Nam sẽ tiến gần hơn tới các mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết đã đề ra.

* Trung tướng, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm – nguyên Giám đốc Học viện Cảnh sát Nhân dân: Cơ hội và thách thức

khang-dinh-thuong-hieu-quoc-gia-3.jpg
Trung tướng, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm.

Sau 40 năm đổi mới, giáo dục đại học Việt Nam có bước tiến mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng. Song thực tế hiện nay cho thấy, giáo dục đại học đứng trước yêu cầu cấp bách phải tái cơ cấu toàn diện từ mô hình quản trị, tổ chức đào tạo đến phương thức vận hành. Nếu không đổi mới mạnh mẽ, giáo dục đại học khó theo kịp nền kinh tế tri thức và cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Sau 80 năm thành lập nước, đặc biệt 40 năm đổi mới và hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường hội nhập quốc tế, đổi mới chương trình giảng dạy và gắn kết đào tạo với thị trường lao động là những điểm nổi bật.

Giáo dục đại học đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều trường đại học đã triển khai chương trình chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật, y dược, an ninh và quốc phòng. Hợp tác quốc tế cũng được đẩy mạnh thông qua trao đổi giảng viên, sinh viên và nghiên cứu chung.

Cả nước hiện có hơn 260 cơ sở giáo dục đại học, chưa kể các trường thuộc khối quốc phòng – an ninh. Mở rộng quy mô đã tạo cơ hội tiếp cận đại học cho nhiều tầng lớp dân cư, đồng thời thúc đẩy cạnh tranh giữa các trường.

Tuy nhiên, thẳng thắn mà nói, hệ thống đại học Việt Nam đang phát triển thiếu đồng bộ về chất lượng, phân bố chưa hợp lý, không gắn kết với nghiên cứu khoa học và thực tiễn xã hội. Các vấn đề nêu trên là những yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao trong kỷ nguyên mới.

Mục tiêu đặt ra là hiện đại hóa các trường đại học và phát triển viện nghiên cứu, nhóm nghiên cứu mạnh. Do đó, cơ sở giáo dục đại học cần hiện đại hóa chương trình, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực, kiểm định quốc tế, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo; đồng thời tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như: Công nghệ thông tin, an ninh mạng, chế tạo máy, ô tô, hạt nhân, công nghệ thực phẩm. Các đại học lớn cần trở thành trung tâm nghiên cứu trọng điểm quốc gia, hướng tới mô hình trường học thông minh và cam kết phát thải ròng bằng 0.

Ngoài ra, cần phát triển các mô hình đại học liên kết với nước ngoài như: Việt – Đức, Việt – Nhật, Việt – Pháp, RMIT Việt Nam, đồng thời thu hút các nhà khoa học quốc tế giảng dạy và hợp tác nghiên cứu. Việc tạo điều kiện cho các đại học quốc tế đặt chi nhánh tại Việt Nam và hình thành các trung tâm nghiên cứu liên doanh sẽ giúp nâng tầm giáo dục đại học Việt Nam, hướng tới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới.

Xét trên phương diện tổng thể, giáo dục đại học Việt Nam cần được “tái cơ cấu” theo hướng tinh gọn, hiện đại, tự chủ và hội nhập quốc tế; đồng thời phân tầng rõ ràng và tăng cường quản trị, để đào tạo những thế hệ nhân lực tinh hoa, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

* PGS.TS Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội): 5 bài học kinh nghiệm quốc tế

khang-dinh-thuong-hieu-quoc-gia-2.jpg
PGS.TS Trần Thành Nam.

Nhiều quốc gia châu Á đã triển khai chiến lược phát triển đại học gắn liền với hoạch định kinh tế – xã hội dài hạn. Nhật Bản với nền tảng giáo dục lâu đời cũng không ngừng đổi mới. Đại học Tokyo lên thứ 26 thế giới năm 2026. Nhật áp dụng các chương trình “đại học toàn cầu”, khuyến khích hợp tác với nước ngoài và tăng vốn đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng, đồng thời nâng cao giảng viên chuyên ngành. Nhật Bản còn là hình mẫu về hệ thống kiểm định chất lượng (AUN-QA Network) và chú trọng công tác đào tạo giảng viên.

Ấn Độ đã cải tổ mạnh ngành đại học qua dự án khung về “Đại học tương lai” và cho phép nhiều trường tư nhân, nước ngoài đầu tư thành lập. Hàng chục viện công nghệ (IIT, IIIT) nổi tiếng của Ấn Độ đưa nước này lên bản đồ nghiên cứu toàn cầu. Ấn Độ nhấn mạnh giáo dục STEM – 35% học viên theo học các ngành khoa học và tận dụng lợi thế nhân lực dồi dào để trở thành “công xưởng chất xám” thế giới. Mạng lưới R&D công – tư (Institutes of Eminence) và chiến lược quốc gia (Startup India) cũng góp phần tăng mạnh đăng ký sáng chế và đổi mới thương mại.

Từ các mô hình trên, theo tôi có 5 bài học kinh nghiệm để Việt Nam có thể tham khảo, học tập: Thứ nhất, Chính phủ đóng vai trò định hướng và đầu tư chiến lược lâu dài, với tiêu chí “đổi mới giáo dục bằng đổi mới kinh tế”.

Thứ hai, tập trung xây dựng một số đại học ưu tú thành trung tâm nghiên cứu – giáo dục mũi nhọn, thay vì duy trì hệ thống quá phân tán.

Thứ ba, gắn kết chặt ngành đại học với thị trường lao động và công nghệ, khuyến khích hợp tác nghiên cứu và khởi nghiệp từ giảng đường.

Thứ tư, ưu tiên đào tạo nhân lực công nghệ cao và thu hút toàn cầu giảng viên, nghiên cứu sinh giỏi.

Thứ năm, tăng cường hội nhập quốc tế, cho phép hợp tác thành lập chương trình liên kết, đại học nhánh nước ngoài, đồng thời khuyến khích sinh viên du học và thu hút sinh viên quốc tế như các nước châu Á khác đang làm.

“Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đại học cần được coi là ‘quốc sách hàng đầu’, được trao quyền tự chủ vận hành nhưng kèm theo trách nhiệm; được ưu đãi đầu tư nghiên cứu, hạ tầng và phát triển nhân lực chất lượng cao, trong một chiến lược quốc gia gắn liền đổi mới sáng tạo và hội nhập toàn cầu”, PGS.TS Trần Thành Nam cho biết.

Hội nghị và Triển lãm APAIE là một trong bốn sự kiện quốc tế lớn nhất về giáo dục quốc tế toàn cầu, bên cạnh Hội nghị và Triển lãm NAFSA (Hoa Kỳ), EAIE (châu Âu) và AIEC (Úc).

Triển lãm APAIE 2026 diễn ra từ 23/2/2026 đến 27/2/2026, tại Trung tâm Hội nghị và Triển lãm Hồng Kông (Hồng Kông, Trung Quốc) với khoảng 2.500 đại biểu từ hơn 65 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ

Chiều Chủ nhật mỗi tuần là thời điểm âm nhạc được vang lên từ Nhà Bát Giác.

Âm nhạc vang lên từ Nhà Bát Giác

GD&TĐ - Không vé mời, không sân khấu khép kín, người qua đường dừng lại bên ghế đá, tựa lan can, lặng lẽ lắng nghe jazz vang lên từ Nhà Bát Giác.

Những chiếc lều tạm là nơi đón năm mới của người trồng dưa hấu.

Cánh đồng dưa rộn ràng hơi thở Tết

GD&TĐ - Ngày giáp Tết, trên những cánh đồng dưa hấu trải dài ở phía Tây tỉnh Gia Lai, không khí lao động vẫn rộn ràng từ tinh mơ đến tối muộn.

Giá trị dự trữ vàng của Nga đạt mức cao kỷ lục, vượt mốc 400 tỷ đô la.

Trữ lượng vàng của Nga phá kỷ lục

GD&TĐ - Theo số liệu thống kê do ngân hàng trung ương Nga công bố hôm 6/2, giá trị dự trữ vàng của nước này đã đạt mức cao kỷ lục, vượt mốc 400 tỷ đô la.