Dự thảo đề xuất mức hỗ trợ có thể lên tới 400 triệu đồng/tháng, nhằm tạo sức hút cạnh tranh và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao cho giáo dục Việt Nam.
Phân nhóm đối tượng rõ ràng
Bà Nguyễn Thu Thủy – Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế (Bộ GD&ĐT) cho biết, mục tiêu xuyên suốt của Đề án là xây dựng các cơ chế, chính sách mang tính đột phá, vượt trội so với quy định hiện hành, qua đó khắc phục những rào cản trong thu hút, sử dụng và giữ chân đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học chất lượng cao, tạo nền tảng đồng bộ cho sự phát triển bền vững của giáo dục Việt Nam.
Theo bà Thủy, dự thảo Đề án được cấu trúc gồm ba phần chính: Sự cần thiết ban hành; quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp; tổ chức thực hiện. Trọng tâm của Đề án là hệ thống cơ chế, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài, bao gồm các chính sách ưu đãi chung và được thiết kế riêng theo từng nhóm đối tượng, nhằm bảo đảm tính cạnh tranh và hiệu quả trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Về chính sách chung, chuyên gia và nhà khoa học là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài khi được tuyển dụng sẽ hưởng các ưu đãi theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam. Đồng thời, các cá nhân đã giữ chức danh giáo sư, phó giáo sư tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu ở nước ngoài sẽ được xem xét công nhận tương đương theo quy định của Bộ GD&ĐT.
Đáng chú ý, dự thảo Đề án xây dựng chính sách riêng cho ba nhóm chuyên gia, thể hiện mức độ ưu tiên khác nhau nhằm thu hút nhân lực xuất sắc trong các lĩnh vực khoa học – công nghệ mũi nhọn.
Cụ thể, đối với Nhóm 1 – nhóm chuyên gia hàng đầu – dự thảo đề xuất mức lương tối thiểu 400 triệu đồng/tháng, miễn thuế thu nhập cá nhân trong ba năm đầu và hỗ trợ ban đầu tối đa 5 tỷ đồng để thiết lập phòng thí nghiệm, mua sắm thiết bị và thuê trợ lý nghiên cứu.
Nhóm này được giao các vị trí then chốt như giám đốc chương trình, trưởng nhóm nghiên cứu quốc gia; được ưu tiên chủ trì đề tài cấp Bộ, cấp quốc gia; được tuyển dụng nghiên cứu viên, chi trả toàn bộ chi phí công tác trong và ngoài nước; đồng thời được bố trí nhà ở hoặc hỗ trợ thuê nhà tối đa 50 triệu đồng/tháng.
Với Nhóm 2, chuyên gia được hưởng mức lương tối thiểu 200 triệu đồng/tháng, kèm phụ cấp nghiên cứu ưu đãi; hỗ trợ ban đầu lên tới 2 tỷ đồng; được giao đảm nhiệm các chức danh quản lý chuyên môn và chủ trì ít nhất hai đề tài cấp Bộ hoặc cấp quốc gia. Ngoài ra, nhóm này được thanh toán chi phí công tác theo quy định, hỗ trợ thuê nhà từ 20 - 30 triệu đồng/tháng trong ba năm đầu và hưởng các ưu đãi khác theo thỏa thuận với cơ sở sử dụng.
Đối với Nhóm 3, mức lương tối thiểu được đề xuất là 100 triệu đồng/tháng; hỗ trợ ban đầu tối đa 500 triệu đồng; được giao chức danh quản lý chuyên môn, chi trả chi phí công tác trong và ngoài nước, hỗ trợ tham dự hai hội nghị khoa học quốc tế mỗi năm. Nhóm này được giao chủ trì ít nhất một đề tài cấp Bộ mỗi năm và hỗ trợ thuê nhà từ 10 - 19 triệu đồng/tháng trong ba năm đầu.
Hoàn thiện thể chế và môi trường học thuật
Cùng với các chính sách ưu đãi trực tiếp, dự thảo Đề án đề xuất nhiều nhiệm vụ và giải pháp nhằm hoàn thiện nền tảng thể chế để triển khai hiệu quả, như rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật về tuyển dụng, bổ nhiệm chuyên gia nước ngoài; nghiên cứu cấp thị thực tích hợp thay thế giấy phép lao động; hoàn thiện cơ chế tài chính, tự chủ cho các cơ sở giáo dục; đồng thời nghiên cứu thành lập Quỹ Thu hút và Phát triển giảng viên, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài.
Cũng theo bà Thủy, Đề án nhấn mạnh việc xây dựng mạng lưới kết nối tri thức toàn cầu, bao gồm cơ sở dữ liệu quốc gia về chuyên gia quốc tế, mạng lưới trí thức Việt Nam toàn cầu, các chương trình trao đổi học thuật, hội thảo và cố vấn. Công tác truyền thông được xác định là một trụ cột quan trọng, với định hướng xây dựng chiến lược “Work in Vietnam”, qua đó quảng bá Việt Nam như một điểm đến học thuật và nghiên cứu uy tín trong khu vực.
Ghi nhận, nhiều giải pháp của dự thảo Đề án mang tính đột phá nhưng ông Lê Anh Vinh - Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho rằng, cần phân nhóm đối tượng rõ ràng hơn.
Với nhóm chuyên gia xuất sắc, có khả năng “thay đổi”, ông đề xuất cơ chế vượt trội gắn với các nhiệm vụ như AI, bán dẫn; với đội ngũ chuyên gia quốc tế nói chung, cần tiêu chí minh bạch, môi trường học thuật hấp dẫn và cơ chế tiếp nhận thông thoáng. Ông đề nghị thành lập Quỹ cạnh tranh tài năng để các trường có thêm nguồn lực thu hút nhân lực chất lượng cao trong và ngoài nước.
Từ phía giáo dục nghề nghiệp, các ý kiến nhấn mạnh yêu cầu bám sát thực tế đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp. Ông Vũ Quang Khuê - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh đề nghị bổ sung yêu cầu về kinh nghiệm thực tiễn tại doanh nghiệp, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao; đồng thời lưu ý mức hỗ trợ nhà ở, sinh hoạt phí cần phù hợp vì nhiều chuyên gia lớn tuổi đi cùng gia đình.
Theo ông, mức chi trong Đề án còn thấp so với chính sách thu hút nhân tài tại một số địa phương, trong khi năng lực tài chính của nhiều trường nghề hạn chế. Từ đó, ông Khuê đề xuất bổ sung cơ chế hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, đặc biệt đối với cơ sở trọng điểm và ngành mới như công nghệ bán dẫn.
Từ năm 2024, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) đã nằm trong tốp các trường đại học có doanh thu trên 1.000 tỷ đồng. Kết quả này phản ánh rõ nét hiệu quả của quá trình đổi mới quản trị đại học, đẩy mạnh tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, đồng thời tạo tiền đề quan trọng cho việc nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và thu hút nguồn nhân lực trình độ cao.
Theo GS.TS Mai Thanh Phong – Hiệu trưởng nhà trường cho biết, một trong những điểm nhấn quan trọng trong thời gian qua là công tác tổ chức và nhân sự.
Trường đã thực hiện quyết liệt việc tinh gọn bộ máy theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW năm 2017, hướng tới xây dựng bộ máy quản trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Cùng với đó, nhà trường đã triển khai thành công Đề án vị trí việc làm và Đề án tiền lương mới. Qua đó giúp thu nhập của đội ngũ giảng viên và viên chức tăng lên đáng kể. Đây được xem là yếu tố then chốt tạo động lực mạnh mẽ để thu hút và giữ chân nhân tài, trong đó có đội ngũ chuyên gia, giảng viên quốc tế.
Cần “visa nhân tài” và cơ chế tài chính linh hoạt
Tuy nhiên, GS.TS Mai Thanh Phong thẳng thắn chỉ ra nhiều vướng mắc, nhất là trong thủ tục hành chính và pháp lý, khi các quy định hiện hành chưa theo kịp yêu cầu phát triển của giáo dục đại học và khoa học – công nghệ.
Cụ thể, thủ tục cấp giấy phép lao động cho giảng viên, chuyên gia nước ngoài hiện còn phức tạp, chưa phù hợp với đặc thù hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó, hiện nay chưa có cơ chế cấp thị thực dài hạn dành riêng cho giảng viên và chuyên gia quốc tế, gây khó khăn cho việc thu hút và ổn định đội ngũ này làm việc lâu dài tại Việt Nam.
Cùng với đó, quy trình công nhận văn bằng và chức danh khoa học còn chậm, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ tiếp nhận và bố trí giảng viên, chuyên gia nước ngoài. Chính sách đãi ngộ và năng lực cạnh tranh tài chính còn những bất cập, trong đó chính sách thuế thu nhập cá nhân chưa đủ sức cạnh tranh so với các quốc gia trong khu vực; cơ chế lương và phúc lợi chưa có tính đột phá; nguồn lực dành cho nghiên cứu khoa học còn hạn hẹp.
Bên cạnh đó, hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện cho chuyên gia nước ngoài sinh sống và phát triển chuyên môn tại Việt Nam hiện chưa đồng bộ, thiếu tính ổn định và bền vững. Các dịch vụ liên quan đến nhà ở, giáo dục cho con cái, y tế, bảo hiểm, hành chính công và các tiện ích tiêu chuẩn quốc tế chưa được kết nối một cách hệ thống, ảnh hưởng đến quyết định gắn bó lâu dài của chuyên gia.
Từ thực tiễn đó, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) kiến nghị xây dựng cơ chế “thị thực (visa) nhân tài” cùng với quy định cấp giấy phép lao động đặc biệt dành cho giảng viên, chuyên gia quốc tế.
Theo đề xuất, cần ban hành một loại thị thực dài hạn, thời hạn từ 3 - 5 năm và có thể gia hạn, đồng thời áp dụng quy trình cấp giấy phép lao động rút gọn. Bên cạnh đó, cần giao quyền cho các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm được thẩm định và bảo lãnh cho chuyên gia, nhằm rút ngắn thời gian và tăng tính chủ động trong tuyển dụng.
Ông Phong cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải hoàn thiện chính sách về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các chuyên gia, nhà khoa học yên tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Đồng thời, cần ban hành chính sách ưu đãi đặc thù, trong đó có một biểu thuế suất ưu đãi riêng về thuế thu nhập cá nhân dành cho chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài thuộc các lĩnh vực ưu tiên chiến lược.
Một kiến nghị quan trọng khác là cho phép áp dụng cơ chế tài chính linh hoạt và mức độ tự chủ cao hơn cho các cơ sở giáo dục đại học. Theo đó, cần sửa đổi, bổ sung các quy định về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, cho phép các trường đại học được tự chủ hoàn toàn trong việc xây dựng quỹ lương chuyên gia, thang bảng lương riêng và các chế độ đãi ngộ đặc thù, phù hợp với yêu cầu cạnh tranh quốc tế.
Ngoài ra, ông Phong đề xuất giao các địa phương trọng điểm như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng xây dựng các đề án tổng thể nhằm tạo môi trường sống và làm việc thuận lợi cho chuyên gia quốc tế.
Các đề án này cần bao gồm quy hoạch khu nhà ở, tạo điều kiện cho con cái chuyên gia theo học tại các trường chất lượng cao, đồng thời kết nối với hệ thống dịch vụ tiêu chuẩn quốc tế về bảo hiểm, y tế và hành chính công. Song song với đó, có thể thí điểm thành lập các đơn vị hỗ trợ tư vấn toàn diện dành cho chuyên gia nước ngoài tại các thành phố lớn, coi đây là những yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến quyết định làm việc dài hạn của đội ngũ này.
Về lâu dài, ông Phong kiến nghị giao nhiệm vụ cho các cơ quan đại diện ngoại giao phối hợp với các bộ, ngành xây dựng và quản lý một cơ sở dữ liệu quốc gia về chuyên gia. Đồng thời, cần chính thức hóa vai trò “cầu nối – giới thiệu” thông qua việc định kỳ tổ chức các diễn đàn kết nối chuyên gia nước ngoài nhằm gián tiếp quảng bá và thu hút chuyên gia đến làm việc lâu dài tại các trường đại học Việt Nam.
Trên cơ sở đó, cần xây dựng cơ chế công khai, minh bạch cơ sở dữ liệu chuyên gia nước ngoài, tối ưu hóa cho việc cộng tác tại nhiều cơ sở giáo dục, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Khẳng định giáo dục Việt Nam là hệ thống thống nhất, liên thông và bổ trợ lẫn nhau, PGS.TS Bùi Huy Nhượng - Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân nhấn mạnh, giáo dục đại học giữ vai trò then chốt vừa là trung tâm sáng tạo, sản xuất và lan tỏa tri thức, vừa là cầu nối với mạng lưới khoa học, công nghệ và văn hóa toàn cầu. Ông cho rằng, hợp tác quốc tế chính là động lực để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển, từ việc nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy nghiên cứu, bồi dưỡng đội ngũ đến chuyển đổi số.
Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc đề nghị, cần làm rõ chính sách đối với chuyên gia nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài, có phần chung nhưng cũng nên có cơ chế ưu tiên phù hợp. Đồng thời, phân loại mục tiêu (nhóm dẫn dắt, nhóm nâng cao năng lực…) để tiêu chí tuyển chọn và ưu đãi gắn với từng nhóm cụ thể.
Ngoài ra, cần xác định rõ vai trò Nhà nước và cơ sở đào tạo: Nhà nước hỗ trợ có trọng tâm đối với các lĩnh vực ưu tiên, cơ sở đủ điều kiện mới được thụ hưởng; đồng thời bảo đảm môi trường làm việc, hệ sinh thái hỗ trợ chuyên gia, chính sách thuế khả thi và các cơ chế thông thoáng về bổ nhiệm, hợp đồng, quản lý chuyên môn.
Giai đoạn 2021–2025, đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và chuyên gia nước ngoài làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam gia tăng rõ rệt cả về số lượng và chất lượng. Về quốc tịch, lực lượng này đến từ nhiều quốc gia, trong đó Hàn Quốc dẫn đầu với 540 người, tiếp theo là Hoa Kỳ (537), Pháp (450), Nhật Bản (405), Úc (206), Nga (186), Thái Lan (183), Vương quốc Anh (177), Indonesia (140) và Đài Loan – Trung Quốc (127).