Kiến tạo nền tảng thể chế mới cho giáo dục số

GD&TĐ - Năm 2025 là dấu mốc trong tiến trình hoàn thiện thể chế giáo dục, khi hàng loạt nghị quyết, luật, chính sách quan trọng được ban hành, tạo dựng khung khổ pháp lý đồng bộ cho chuyển đổi số và phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.

Học sinh THPT tham gia hoạt động trải nghiệm công nghệ tại Trường Đại học FPT Cần Thơ. Ảnh: TG
Học sinh THPT tham gia hoạt động trải nghiệm công nghệ tại Trường Đại học FPT Cần Thơ. Ảnh: TG

Từ nền tảng đó, giáo dục Việt Nam được kỳ vọng bước sang chu kỳ phát triển đột phá, với giáo dục số, khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo giữ vai trò quan trọng.

Ông Phạm Quang Hưng - Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ GD&ĐT): Kiến tạo khung chính sách đồng bộ

kien-tao-nen-tang-the-che-moi-cho-giao-duc-so1.jpg
Ông Phạm Quang Hưng.

Những năm gần đây, đặc biệt giai đoạn 2024 - 2025, là thời điểm bản lề trong tiến trình hoàn thiện thể chế, kiến tạo nền tảng phát triển khoa học, công nghệ và GD-ĐT của đất nước. Việc liên tiếp ban hành các nghị quyết quan trọng của Đảng, cùng hệ thống luật, nghị định, thông tư được Quốc hội, Chính phủ xây dựng đã tạo nên khung khổ chính sách đồng bộ, có tính dẫn dắt cho giai đoạn phát triển mới.

Nổi bật là hai nghị quyết mang ý nghĩa chiến lược: Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển GD-ĐT. Hai nghị quyết này, cùng nhiều nghị quyết, chỉ đạo khác của Trung ương trở thành kim chỉ nam cho xây dựng chính sách, pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và khoa học.

Trên cơ sở định hướng đó, Quốc hội, Chính phủ đã tích cực, khẩn trương ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, gồm các luật, nghị định và văn bản hướng dẫn. Có thể nói, năm 2025 là năm bản lề để hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật, tạo nền tảng cho giai đoạn triển khai đồng bộ từ năm 2026 trở đi. Theo đó, năm 2026 sẽ là năm chuyển từ xây dựng chính sách sang tổ chức thực hiện, đưa các quy định pháp luật vào đời sống giáo dục và khoa học giáo dục một cách thực chất.

Trong bối cảnh đó, các hội nghị khoa học giáo dục tổ chức trong thời gian qua mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Các hội nghị khoa học giáo dục gần đây đã thu hút sự tham gia của đông đảo nhà khoa học uy tín; báo cáo, tham luận được chuẩn bị công phu, có chiều sâu, thể hiện sự đầu tư nghiêm túc cả về lý luận và thực tiễn. Trong đó, các nhà khoa học đề xuất nhiều giải pháp mang tính hệ thống, nhằm hỗ trợ triển khai các luật, nghị định, thông tư mới trong giai đoạn tới, đặc biệt là từ 2026 - thời điểm các chính sách bắt đầu đi vào thực thi đồng loạt.

Một điểm mới nổi bật của các nghiên cứu khoa học giáo dục thời gian gần đây là sự gia tăng mạnh mẽ các nội dung liên quan đến chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Nhiều báo cáo đi sâu phân tích dữ liệu, đưa ra minh chứng, bằng chứng khoa học cụ thể thay vì chỉ dừng lại ở nhận định chung chung.

Điều này cho thấy, khoa học giáo dục đang chuyển dần sang hướng tiếp cận dựa trên dữ liệu, bằng chứng thực tiễn - xu hướng tất yếu của khoa học hiện đại. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng để tham mưu cho Bộ GD&ĐT, Chính phủ trong xây dựng và triển khai chính sách; đồng thời được kỳ vọng là bước đột phá trong đưa khoa học giáo dục thực sự trở thành nền tảng tri thức cho hoạch định chính sách.

Liên quan đến khuôn khổ pháp lý mới, tôi cho rằng, Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi) và Luật Trí tuệ nhân tạo vừa được ban hành, đặc biệt là Luật Trí tuệ nhân tạo có nhiều nội dung quan trọng được giao trực tiếp cho Bộ GD&ĐT.

Trong đó có yêu cầu đưa giáo dục AI vào chương trình giáo dục phổ thông; đồng thời triển khai giảng dạy, lồng ghép AI trong các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, giáo dục nghề nghiệp. Đây là nội dung hoàn toàn mới, đòi hỏi Bộ GD&ĐT phải ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, đồng thời tổ chức triển khai quyết liệt ở cả Trung ương và địa phương.

TS Trần Khắc Tâm - Đại biểu HĐND TP Cần Thơ, Phó Chủ tịch Hội đồng các Hiệp hội Doanh nghiệp ĐBSCL: Giáo dục số bước vào giai đoạn “chín muồi” về thể chế

kien-tao-nen-tang-the-che-moi-cho-giao-duc-so4.jpg
TS Trần Khắc Tâm.

Giáo dục số bước vào giai đoạn “chín muồi” về thể chế, khi hàng loạt chủ trương, chính sách lớn được ban hành trong thời gian qua. Đây là nền tảng quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đột phá phát triển giáo dục theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Nghị quyết 29-NQ/TW đã tạo bước chuyển căn bản, giúp giáo dục Việt Nam đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận, góp phần đưa Việt Nam sớm hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc về giáo dục chất lượng.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, giáo dục không thể dừng lại ở cải cách mà cần những đột phá chiến lược mạnh mẽ hơn, trong đó giáo dục số đóng vai trò then chốt.

Năm vừa qua là dấu mốc đặc biệt khi hệ thống chính sách về giáo dục được hoàn thiện đầy đủ, đồng bộ và có tính đột phá. Nổi bật nhất là Nghị quyết số 71-NQ/TW, thể hiện sự chuyển dịch tư duy chiến lược.

Nếu Nghị quyết số 29-NQ/TW đặt nền móng cải cách, thì Nghị quyết số 71-NQ/TW xác lập giáo dục là nhân tố quyết định tương lai dân tộc, gắn chặt với chiến lược phát triển quốc gia trong kỷ nguyên số. Đây cũng là lần đầu tiên nguồn lực cho giáo dục được “luật hóa” bằng những con số mang tính pháp lệnh, với cam kết chi tối thiểu 20% tổng ngân sách Nhà nước, trong đó giáo dục đại học chiếm ít nhất 3%.

Chính sách này tạo cú hích lớn cho giáo dục số, giúp ngành Giáo dục có điều kiện đầu tư hạ tầng công nghệ, nền tảng học tập số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các mô hình đào tạo hiện đại. Song song đó, Nghị quyết số 71-NQ/TW tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, thúc đẩy mô hình giáo dục mở, liên thông, học tập suốt đời vốn là những yếu tố cốt lõi của hệ sinh thái giáo dục số.

Có thể nói, định hướng đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng AI có trách nhiệm, đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, tăng cường hội nhập quốc tế không chỉ giúp nâng cao chất lượng đào tạo, mà còn mở ra cơ hội hình thành các mô hình đại học mới, đóng vai trò đầu tàu trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Với nền tảng thể chế ngày càng hoàn thiện, nguồn lực được bảo đảm và tầm nhìn chiến lược rõ ràng, giáo dục số đang đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá, góp phần nâng tầm giáo dục Việt Nam, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

PGS.TS Võ Văn Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng: Từ chính sách đúng đến thực thi hiệu quả

kien-tao-nen-tang-the-che-moi-cho-giao-duc-so3.jpg
PGS.TS Võ Văn Minh.

Những năm gần đây, chuyển đổi số trong giáo dục không còn là khẩu hiệu công nghệ, mà đã được đặt trên nền tảng thể chế ngày càng rõ nét. Hàng loạt chính sách quan trọng được ban hành, từ Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, Đề án phát triển Chính phủ số, đến các quy định về cơ sở dữ liệu ngành giáo dục, học bạ số, văn bằng số, đại học số.

Đặc biệt, các luật trong lĩnh vực giáo dục được sửa đổi, ban hành năm 2025 đã chính thức thừa nhận giáo dục số như một cấu phần của hệ thống giáo dục quốc dân, tạo hành lang pháp lý cho các mô hình đào tạo linh hoạt, kết hợp trực tiếp - trực tuyến, công nhận kết quả học tập trên nền tảng số.

Điểm mới có ý nghĩa căn bản là Nhà nước đã chuyển từ cách tiếp cận “ứng dụng công nghệ trong giáo dục” sang “xây dựng thể chế cho giáo dục số”. Nếu trước đây công nghệ chủ yếu hỗ trợ giảng dạy, thì nay pháp luật bắt đầu điều chỉnh toàn bộ vòng đời của giáo dục số: Từ quản trị hệ thống, tổ chức đào tạo, kiểm tra - đánh giá, đến công nhận văn bằng, bảo đảm chất lượng. Đây là bước chuyển từ số hóa hoạt động sang số hóa cấu trúc vận hành của hệ thống giáo dục.

Tuy nhiên, khoảng cách lớn nhất hiện nay không nằm ở thiếu chính sách, mà ở khâu thực thi. Để nền tảng thể chế cho giáo dục số đi vào cuộc sống, theo tôi cần tập trung vào bốn yêu cầu cốt lõi.

Thứ nhất, đồng bộ hóa pháp lý. Các quy định về dữ liệu, đào tạo trực tuyến, kiểm định chất lượng, tài chính giáo dục phải được thiết kế liên thông. Nếu mỗi lĩnh vực một “luật chơi”, giáo dục số sẽ bị chia cắt và khó vận hành như một hệ sinh thái thống nhất.

Thứ hai, chuẩn hóa hạ tầng dữ liệu quốc gia về giáo dục. Giáo dục số chỉ thực sự hình thành khi dữ liệu người học, chương trình, đội ngũ, cơ sở đào tạo được kết nối thông suốt giữa các bậc học và các địa phương. Dữ liệu chính là “đường ray” để chính sách chạy đúng hướng.

Thứ ba, phát triển năng lực số cho đội ngũ. Thể chế dù tiến bộ đến đâu cũng không thể thay thế con người. Giáo viên và cán bộ quản lý phải được chuẩn hóa năng lực số như một tiêu chuẩn nghề nghiệp mới, thay vì xem đây là kỹ năng bổ trợ.

Thứ tư, gắn giáo dục số với tự chủ và trách nhiệm giải trình. Khi các cơ sở giáo dục được trao quyền thiết kế mô hình đào tạo số phù hợp, đồng thời chịu trách nhiệm về chất lượng đầu ra, giáo dục số mới trở thành động lực đổi mới thực chất.

ThS Từ Hữu Công - giảng viên Trường Đại học Bình Dương: Bốn yêu cầu cơ bản để phát triển mạnh trường học số

kien-tao-nen-tang-the-che-moi-cho-giao-duc-so5.jpg
ThS Từ Hữu Công.

Chuyển đổi số trong giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW là chủ trương rất đúng, kịp thời, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động sâu rộng.

Tuy nhiên, để chuyển đổi số thực sự đi vào chiều sâu, mang lại hiệu quả bền vững, quan trọng không nằm ở khẩu hiệu, số lượng mô hình “trường học thông minh”, mà ở hệ thống chính sách đồng bộ và sự hỗ trợ thực chất cho các cơ sở giáo dục.

Trước hết, tôi cho rằng, Nhà nước cần có chính sách đầu tư trọng tâm, trọng điểm cho hạ tầng số giáo dục. Hạ tầng công nghệ là nền móng của chuyển đổi số, nhưng hiện nay sự chênh lệch giữa các vùng, cấp học còn khá lớn.

Nếu không có cơ chế hỗ trợ ngân sách phù hợp, đặc biệt với các cơ sở giáo dục ở vùng khó khăn, thì chuyển đổi số dễ trở thành “đặc quyền” của một số nơi có điều kiện. Việc đầu tư cần theo hướng đồng bộ, lâu dài, tránh tình trạng mua sắm manh mún, thiếu kết nối và nhanh chóng lạc hậu.

Thứ hai, chính sách chuyển đổi số giáo dục cần đặt con người vào vị trí trung tâm, trong đó đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giữ vai trò quyết định. Công nghệ chỉ là công cụ, hiệu quả phụ thuộc vào năng lực sử dụng và tư duy của người làm giáo dục. Do đó, cần chương trình bồi dưỡng kỹ năng số cho giáo viên, cán bộ quản lý bài bản, liên tục, gắn với chuẩn nghề nghiệp và đánh giá thực chất. Việc bồi dưỡng không chỉ dừng ở kỹ năng sử dụng phần mềm, mà phải hướng tới đổi mới tư duy dạy học, quản trị, đánh giá trong môi trường số.

Thứ ba, cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý cho giáo dục số. Chuyển đổi số kéo theo những thay đổi lớn về quản trị dữ liệu, học bạ số, kiểm tra - đánh giá trực tuyến và bảo đảm an toàn thông tin. Vì vậy, Nhà nước cần ban hành các quy định thống nhất về chuẩn dữ liệu giáo dục, cơ chế liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cấp quản lý; đồng thời, có quy định rõ ràng về bảo mật, quyền riêng tư của người học, trách nhiệm của các đơn vị cung cấp dịch vụ công nghệ.

Cuối cùng, chuyển đổi số giáo dục cần được triển khai theo lộ trình phù hợp, tránh chạy theo phong trào. Chính sách hỗ trợ cần gắn với hiệu quả đầu ra, lấy chất lượng giáo dục, năng lực số của người học, hiệu quả quản trị nhà trường làm thước đo. Khi có chính sách đúng, hỗ trợ trúng, triển khai thực chất, chuyển đổi số sẽ trở thành động lực quan trọng để giáo dục Việt Nam phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.

“Có thể nói, nền tảng thể chế cho giáo dục số đã được hình thành rõ nét. Vấn đề quyết định trong giai đoạn tới là biến các quy định pháp luật thành năng lực vận hành của từng nhà trường. Khi đó, giáo dục số không chỉ là xu thế công nghệ, mà sẽ trở thành trụ cột của một hệ thống giáo dục hiện đại, linh hoạt và công bằng hơn”, PGS.TS Võ Văn Minh.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ

Bát đũa cũng có tuổi thọ sử dụng, một khi vượt quá tuổi thọ này, sẽ tiềm ẩn nguy cơ cho sức khỏe. (Ảnh: ITN).

Bất ngờ hạn sử dụng của bát đũa

GD&TĐ - Nhiều người, khi nghe câu hỏi 'Bát đũa có hạn sử dụng không?' đều ngạc nhiên. Thực tế, bát đũa cũng có hạn sử dụng, khi vượt quá tuổi thọ này, sẽ tiềm ẩn nguy cơ cho sức khỏe.