Giữa vùng quê Hành Thiện (Xuân Hồng, Ninh Bình) giàu truyền thống khoa bảng, chùa Keo Hành Thiện lặng lẽ tồn tại như một ngoại lệ đặc biệt trong đời sống Phật giáo Việt Nam: Suốt hàng trăm năm không có sư trụ trì.
Không chỉ là một kiệt tác kiến trúc cổ, ngôi chùa còn là nơi kết tinh huyền tích dân gian, ký ức cộng đồng và sức bền văn hóa được gìn giữ bền bỉ qua nhiều thế hệ.
Tinh hoa kiến trúc cổ
Chùa Keo Hành Thiện (tên chữ là Thần Quang tự) được xem là một trong những ngôi chùa cổ tiêu biểu của Việt Nam, còn bảo tồn tương đối nguyên vẹn đến ngày nay. Ngôi chùa gây ấn tượng bởi hệ thống kiến trúc quy mô, chặt chẽ, mang đậm dấu ấn nghệ thuật truyền thống, với niên đại hơn 400 năm, phản ánh trình độ thẩm mỹ và kỹ thuật xây dựng của cha ông trong lịch sử.
Theo truyền thuyết và các tư liệu dân gian, chùa ban đầu do Thiền sư Không Lộ - nhân vật lịch sử có vai trò đặc biệt dưới triều Lý, được vua phong là Quốc sư kiêm Đại pháp sư – khởi dựng ven sông Hồng vào năm 1061, với tên gọi Nghiêm Quang tự. Đến năm 1167, ngôi chùa được đổi tên thành Thần Quang tự, hàm chứa ý nghĩa tôn vinh ánh sáng trí tuệ và tinh thần Phật pháp.
Trải qua hơn năm thế kỷ tồn tại, chùa Thần Quang phải hứng chịu những biến động khắc nghiệt của thiên nhiên. Vào các năm Mậu Tý (1588) và Tân Hợi (1611), lũ lớn trên sông Hồng gây vỡ đê, nhấn chìm và vùi lấp toàn bộ ngôi chùa cổ. Sau biến cố đó, cư dân trong vùng buộc phải rời bỏ quê cũ, tản cư đến những vùng đất khác để tạo lập cộng đồng mới.
Một bộ phận di chuyển sang tả ngạn sông Hồng, lập nên làng Dũng Nhuệ (trước thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; nay là xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên). Bộ phận còn lại về vùng hữu ngạn sông Hồng, hình thành làng Hành Cung, sau được đổi tên thành làng Hành Thiện dưới triều vua Minh Mệnh (trước thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; nay là xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình).
Tại hai vùng định cư mới, người dân đều chung tay dựng lại chùa, tiếp tục lấy tên chùa Keo (Thần Quang tự), cùng thờ Thiền sư Không Lộ. Không gian thờ tự được tổ chức theo lối truyền thống “tiền Phật, hậu Thánh”, kết hợp với bố cục kiến trúc kiểu “nội công, ngoại quốc”, phản ánh tư duy kiến trúc và tín ngưỡng đặc trưng của người Việt thời trung đại.
Tấm bia cổ sớm nhất hiện còn tại chùa - “Tu tạo Thần Quang tự bi ký”, được soạn ngày 25 tháng Tám, niên hiệu Hoằng Định thứ 13 (1613), triều vua Lê Minh Tông – xác nhận chùa Thần Quang đã được xây dựng từ trước thời điểm này. Văn bia đồng thời ghi nhận chùa từng là một đại danh lam trong thiên hạ, trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo qua các triều đại, cho thấy vị thế đặc biệt của công trình trong đời sống tôn giáo và văn hóa khu vực.
Chùa Keo Hành Thiện hiện tọa lạc trên khu đất rộng hơn một hecta, quay mặt về hướng Nam, xung quanh có hệ thống sông nước bao bọc, tạo nên không gian cảnh quan hài hòa, tĩnh tại.
Toàn bộ công trình được tổ chức thành một quần thể kiến trúc phức hợp, bố cục theo khuôn viên hình chữ nhật, các hạng mục sắp xếp cân xứng, đăng đối trên trục dọc - trục thần đạo. Hệ thống kiến trúc bao gồm: Tam quan ngoại, tam quan nội kiêm gác chuông, phủ Mẫu, dãy hành lang, chùa Phật, đền Thánh, nhà Ký đồ, nhà Tổ, nhà oản, nhà bếp…
Vật liệu xây dựng chủ yếu là gỗ lim, ngói nam và gạch nung thủ công. Các cấu kiện kiến trúc như vì kèo, xà ngang, đầu dư được chạm khắc hoa văn mang phong cách mỹ thuật cổ, thể hiện trình độ kỹ thuật và óc thẩm mỹ tinh xảo của các nghệ nhân xưa. Dẫu thời gian đã phủ lên mái chùa lớp rêu phong trầm mặc, tổng thể kiến trúc vẫn giữ được vẻ trang nghiêm, bền vững, gần như nguyên bản, không bị phá vỡ bởi những can thiệp hiện đại thiếu chừng mực.
Trong tổng thể kiến trúc, tam quan ngoại được xây dựng theo kiểu tường hồi bít đốc, tạo dáng vẻ vững chãi, kín đáo. Bộ khung chịu lực gồm 4 bộ vì, kết cấu theo kiểu ba hàng chân cột. Hệ vì gỗ được liên kết chặt chẽ bằng trụ, xà, con rường, bẩy hiên; phía trên là hệ thống hoành, rui bằng gỗ, mái lợp ngói di nhỏ truyền thống. Căn cứ vào phong cách kiến trúc, kỹ thuật kết cấu và đặc biệt là dòng chữ Hán khắc trên cấu kiện xà lòng, các nhà nghiên cứu xác định tam quan ngoại được dựng lại vào đầu thế kỷ XX.
Tiến sâu vào trong là tam quan nội kiêm gác chuông, công trình nằm sát lối đi, kề cận hồ nước, tạo nên điểm nhấn không gian vừa trang nghiêm vừa khoáng đạt. Tam quan nội gồm 5 gian, kết cấu chồng diêm hai tầng, tám mái, mang dáng vẻ bề thế. Khung kiến trúc gồm 6 bộ vì kiểu bốn hàng chân cột, với 8 cột cái (đường kính khoảng 54cm) và 16 cột quân (đường kính khoảng 35cm).
Trên các cấu kiện gỗ còn bảo lưu hệ thống hoa văn, họa tiết trang trí mang đậm phong cách mỹ thuật thời Hậu Lê. Đây là hạng mục kiến trúc lưu giữ được nhiều yếu tố có niên đại từ thế kỷ XVII. Theo giới nghiên cứu mỹ thuật – kiến trúc, tam quan nội kiêm gác chuông chùa Keo Hành Thiện mang đậm yếu tố thuần Việt, được đánh giá là một trong những tam quan – gác chuông sớm và đẹp nhất còn lại ở Việt Nam.
Qua tam quan nội, du khách bước vào khoảng sân gạch rộng, dẫn thẳng tới chùa Phật. Công trình được xây dựng theo bố cục chữ “Công”, gồm ba tòa nối tiếp nhau: Tiền đường 5 gian, Thiêu hương 3 gian và Thượng điện 3 gian. Hệ mái uốn cong mềm mại, hài hòa, tạo nên nhịp điệu kiến trúc khoan thai, tĩnh tại.
Chùa Keo Hành Thiện được tổ chức thờ tự theo lối “tiền Phật, hậu Thánh”: Phía trước thờ Phật, phía sau thờ Đức Thánh tổ Không Lộ. Trong tâm thức cộng đồng làng Hành Thiện, Thiền sư Không Lộ không chỉ là bậc cao tăng có công khai sơn tạo tự, mà còn được tôn vinh là Phúc thần – Thành hoàng tối linh, vị thần bảo hộ cho làng và ngôi chùa qua bao thế hệ.
Cách tường hậu Thượng điện chùa Phật, qua một khoảng sân rộng hơn 10m là đền Thánh - công trình được kiến tạo theo bố cục chữ “Công”, gồm ba tòa nối tiếp: Tiền đường 5 gian, Trung đường 3 gian và Hậu cung 3 gian. Đền Thánh gây ấn tượng mạnh bởi hệ thống chạm khắc gỗ tinh xảo, tập trung dày đặc trên các mảng đố lụa, khung bạo, con rường, kẻ, bẩy của từng tòa kiến trúc.
Đặc biệt, ba bộ cửa gồm 10 cánh ngăn cách giữa Tiền đường và Trung đường được chạm khắc công phu, mỗi cánh thể hiện một đề tài riêng biệt. Kỹ thuật chạm bong kênh đạt trình độ cao, nổi bật ở cả hai mặt tiền của hai gian Tiền đường, cho thấy tay nghề điêu luyện và tư duy tạo hình tinh tế của các nghệ nhân xưa. Hệ đề tài trang trí phong phú với hình tượng rồng, lân, hoa cúc, tứ linh, tứ quý…, mang đậm phong cách mỹ thuật thế kỷ XVII, vừa giàu tính biểu tượng, vừa hài hòa với tổng thể kiến trúc.
Bên cạnh hệ thống kiến trúc, chùa Keo Hành Thiện hiện còn bảo lưu được số lượng lớn hiện vật và cổ vật có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học và thẩm mỹ qua nhiều thời kỳ. Tiêu biểu là hệ thống tượng pháp, bia ký, sắc phong, nhang án, kiệu thờ, chuông, khánh, hoành phi, câu đối…, góp phần hoàn chỉnh diện mạo một di tích tôn giáo - văn hóa có chiều sâu lịch sử.
Với những giá trị nổi bật và đặc biệt tiêu biểu đó, di tích kiến trúc – nghệ thuật chùa Keo Hành Thiện, bao gồm chùa Keo trong và chùa Keo ngoài, đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2016, khẳng định vị thế quan trọng của di tích trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc.
Truyền thuyết ngôi chùa không sư trụ trì
Chùa Keo Hành Thiện không chỉ gây ấn tượng bởi giá trị kiến trúc đặc sắc, mà còn thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng bởi truyền thuyết về ngôi chùa không có sư trụ trì, được lưu truyền suốt nhiều thế kỷ.
Dẫu vắng bóng những nhà sư thường xuyên đảm nhiệm việc hương khói, chùa Keo Hành Thiện chưa bao giờ rơi vào cảnh hoang phế. Trái lại, không gian thờ tự vẫn luôn được giữ gìn cẩn trọng, nền nếp và trang nghiêm. Công việc trông nom, quét dọn, thắp hương chủ yếu do chính người dân trong làng đảm trách, trở thành một nét sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng đặc biệt, phản ánh mối gắn bó bền chặt giữa cộng đồng và di tích.
Theo truyền thuyết dân gian, thuở Thiền sư Không Lộ khởi dựng chùa, người dân trong vùng khi ấy chưa thực sự mặn mà với việc lễ bái, hương khói. Chạnh lòng trước cảnh ấy, trong một đêm mưa gió dữ dội, ngài đã đan vô số rọ tre, đặt các pho tượng Phật vào trong, rồi dùng nón lá làm thuyền, vượt sông Hồng sang vùng đất Thái Bình xưa. Khi thuyền ra đến giữa dòng, Thiền sư ngoảnh mặt nhìn lại và buông lời nguyền rằng sẽ không có vị sư nào đến trụ trì ngôi chùa này nữa.
Câu chuyện được truyền miệng qua nhiều thế hệ, dần trở thành một huyền thoại dân gian gắn liền với chùa Keo Hành Thiện, góp phần tạo nên chiều sâu tâm linh và sắc thái riêng có cho ngôi cổ tự giữa lòng Đồng bằng Bắc Bộ.
Ông Nguyễn Vũ Phô (sinh năm 1959), thủ từ trông coi chùa Keo Hành Thiện, cho biết, truyền thuyết về lời nguyền gắn với ngôi chùa đã được lưu truyền từ rất lâu trong dân gian, song đến nay vẫn chưa có lời giải thỏa đáng.
Dẫu vậy, thực tế lịch sử cho thấy suốt hàng trăm năm qua, chùa Keo Hành Thiện không có sư trụ trì thường trú. Chính vì thế, từ bao đời nay, mọi công việc trông nom, gìn giữ di tích cũng như hướng dẫn khách thập phương về lễ chùa đều do người dân trong làng luân phiên đảm nhiệm.
Theo ông Phô, hiện nay chùa có khoảng 30 thủ từ, thay nhau trông coi theo lịch phân công, mỗi người phụ trách trong vòng 15 ngày. Ban đêm, luôn có thêm hai người túc trực để đảm bảo an ninh và hương khói. Đáng chú ý, chức danh thủ từ không phải ai cũng có thể đảm nhận, mà được duy trì theo truyền thống “cha truyền, con nối”, gắn liền với trách nhiệm và uy tín của từng dòng họ trong làng.
“Gia đình tôi nhiều đời nối nhau làm thủ từ trông coi chùa Keo Hành Thiện, tính đến tôi đã là đời thứ tám. Các cụ cao niên trong làng vẫn kể lại rằng, đã có thời gian chùa được cử một số vị sư về trụ trì, nhưng điều lạ là các thầy chỉ ở được dăm bữa nửa tháng rồi lặng lẽ rời đi, không ai rõ nguyên cớ. Từ đó, dân làng lại thay nhau đảm nhiệm việc hương khói, coi sóc chùa”, ông Phô chia sẻ.
Lý giải về hiện tượng chùa không có sư trụ trì suốt nhiều thế kỷ, ông Phô cho biết trong dân gian vẫn tồn tại nhiều cách lý giải khác nhau. Có ý kiến cho rằng, làng Hành Thiện vốn là vùng đất khoa bảng, nơi tập trung đông đảo quan lại, nho sĩ, thầy đồ, nên môi trường tư tưởng, sinh hoạt có những nét riêng, khó dung hòa với đời sống tu hành của các nhà sư.
Cũng có ý kiến cho rằng, nguyên do có thể xuất phát từ điều kiện sinh hoạt: Chùa Keo Hành Thiện không có vườn tược, ruộng đất canh tác, khiến đời sống vật chất của các nhà sư gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, những vị sư từng được cử về trụ trì đều không thể gắn bó lâu dài và sớm rời đi.
Dẫu không có sư trụ trì, qua bao biến thiên của lịch sử, ngôi chùa vẫn được cộng đồng làng xã gìn giữ cẩn trọng. Hương khói nơi cửa Phật chưa từng gián đoạn, nếp xưa chưa từng phai nhạt. Theo dòng thời gian, chùa Keo Hành Thiện vẫn là điểm tìm về của hàng vạn du khách thập phương, không chỉ để lễ Phật cầu an, mà còn để lắng mình trong không gian thanh tịnh, trầm mặc rất riêng của một ngôi cổ tự giàu chiều sâu văn hóa – tâm linh.
Hằng năm, lễ hội chùa Keo Hành Thiện được tổ chức trang trọng, thể hiện sự tri ân và niềm tự hào của cộng đồng đối với Đức Thánh tổ Không Lộ. Lễ hội mùa Xuân hiện nay có nghi lễ “trương yến” (yến lão), diễn ra vào ngày 15 tháng Hai âm lịch.
Lễ hội mùa Thu được tổ chức trong ba ngày, từ 13 đến 15 tháng Chín âm lịch, với chuỗi nghi lễ và hoạt động hội đặc sắc như: Lễ phụng nghinh, nghi lễ Thánh đản, khoa giáo rối, hội bơi trải, cùng nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống, mang đậm bản sắc của cộng đồng cư dân địa phương.
Với những giá trị văn hóa tiêu biểu được bảo lưu và trao truyền qua nhiều thế hệ, năm 2019, Lễ hội chùa Keo Hành Thiện đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, khẳng định vị trí đặc biệt của di tích trong đời sống văn hóa tinh thần vùng Đồng bằng Bắc Bộ.
Làng Hành Thiện từ lâu đã nổi danh bởi truyền thống hiếu học, khoa bảng bền bỉ qua nhiều thế hệ. Trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, mảnh đất này cũng sản sinh những người con ưu tú, góp phần làm rạng danh quê hương, đất nước. Theo thống kê, Hành Thiện có hơn 200 người đỗ đạt học vị tiến sĩ, cùng nhiều nhân vật kiệt xuất hoạt động trên các lĩnh vực khoa học, văn hóa, quản lý và xã hội.
Song hành với truyền thống hiếu học là quá trình gìn giữ, trao truyền các giá trị văn hóa làng xã thông qua hệ thống lễ hội, phong tục và không gian kiến trúc cổ. Nổi bật trong đó là chùa Keo Hành Thiện - công trình không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo, tín ngưỡng, mà còn là biểu tượng văn hóa sống động của làng. Ngôi chùa góp phần bồi đắp bản sắc, nuôi dưỡng niềm tự hào và ý thức gìn giữ di sản trong cộng đồng dân cư Hành Thiện qua nhiều thế hệ.