Hầu trời - khúc dạo đầu của thơ mới

GD&TĐ - Hầu Trời là bài thơ thể hiện rõ nét nhất tính chất giao thời trong thơ Tản Đà, in đậm dấu ấn cái tôi ngông nghênh, tài hoa của người con núi Tản sông Đà.

“Hầu Trời” được cấu tứ bằng một câu chuyện viễn tưởng, nhưng với tài hoa và sự sáng tạo độc đáo của Tản Đà, bài thơ có sức hấp dẫn đặc biệt.
“Hầu Trời” được cấu tứ bằng một câu chuyện viễn tưởng, nhưng với tài hoa và sự sáng tạo độc đáo của Tản Đà, bài thơ có sức hấp dẫn đặc biệt.

Tản Đà là “thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ ca Việt Nam hiện đại, là người thứ nhất đã có can đảm làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám giữ một bản ngã, dám có một cái tôi, nhà thi sĩ thứ nhất đã cho chúng ta nghe những khúc dạo đầu đặc biệt tài hoa, những khúc dạo đầu của thơ hiện kim, của Thơ mới” (Xuân Diệu).

1.

Tản Đà là một nhà thơ, nhà văn, đồng thời là một nhà viết kịch nổi tiếng của Việt Nam. Sinh ra ở làng quê Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội), bên bờ sông Đà, gần chân núi Tản Viên, thi sĩ Nguyễn Khắc Hiếu lấy bút danh là Tản Đà. Cái tên ấy đã rất quen thuộc trên văn đàn Việt Nam vào những năm hai mươi của thế kỉ XX với hàng loạt các tác phẩm ở nhiều thể loại: Khối tình con I, II (thơ - 1916, 1918), Giấc mộng con I, II (truyện phiêu lưu viễn tưởng - 1916, 1932), Khối tình bản chính, Khối tình bản phụ (luận thuyết - 1918), Còn chơi (thơ và văn xuôi - 1921), Thơ Tản Đà (1925), Giấc mộng lớn (tự truyện - 1928)…

Sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời, khi Hán học đã tàn mà Tây học cũng mới bắt đầu, sự nghiệp văn chương của Tản Đà mang dấu ấn “người của hai thế kỉ” (Hoài Thanh). Chính điệu tâm hồn mới mẻ, cái tôi lãng mạn, bay bổng vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương, ưu ái, thơ văn Tản Đà - gạch nối giữa hai thời đại văn học dân tộc: Trung đại và hiện đại - đã chinh phục thế hệ độc giả mới đầu thế kỉ XX.

Xuân Diệu - “nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới” đã ghi công Tản Đà là thi sĩ đầu tiên mở đầu cho thơ ca Việt Nam hiện đại,  là người thứ nhất đã có can đảm làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám giữ một bản ngã, dám có một cái tôi, nhà thi sĩ thứ nhất đã cho chúng ta nghe những khúc giáo đầu đặc biệt tài hoa, những khúc giáo đầu của thơ hiện kim, của Thơ mới. Còn Huy Cận khẳng định người ấy là một tin xuân của văn thơ Việt Nam.

Thế nhưng cũng chính các nhà Thơ mới đã xem Tản Đà như đại diện cuối cùng của thơ cũ, và trong khi tiến công thơ cũ họ đã tập trung hỏa lực để đả kích mạnh mẽ Tản Đà, người đại diện uy tín nhất ấy. Cho nên có thể nói: Vai trò lịch sử của Tản Đà là chôn cất thơ cũ lần cuối với tất cả vẻ đẹp huy hoàng của nó và mở đường cho Thơ mới ra đời (Nguyễn Khắc Xương). Bài thơ Hầu Trời là tác phẩm thể hiện rõ nét nhất tính chất giao thời trong thơ Tản Đà, in đậm dấu ấn cái tôi ngông nghênh, tài hoa của người con núi Tản sông Đà.

2.

Câu chuyện hầu Trời được chủ nhân bắt đầu bằng một loạt các chi tiết sắp xếp theo trình tự hợp lí để tạo ra một “cốt truyện” khá chặt chẽ, tự nhiên. Chuyện rằng có người nguyên lúc canh ba nằm một mình. Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh. Nằm buồn anh ta ngồi dậy đun nước uống rồi nằm ngâm văn, chơi trăng. Bỗng thấy hai cô tiên xuống mời lên Trời đọc văn. Lên đến nơi, Trời sai pha nước để nhấp giọng, văn sĩ cao hứng Đọc hết văn vần sang văn xuôi/ Hết văn thuyết lí lại văn chơi.

Chư tiên nghe thích thú Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay, và Trời lại phê cho văn thật tuyệt. Nghe xong, Trời truyền hỏi danh tính, thi sĩ giới thiệu về mình và trần tình cảnh sống nghèo khó ở trần gian. Trời an ủi con cứ về mà làm ăn/ Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết. Chia tay Trời, thi sĩ về đến non Đoài khi trời gần sáng, một mình ngậm ngùi Một năm ba trăm sáu mươi đêm/ Sao được mỗi đêm lên hầu trời…

Hầu Trời được cấu tứ bằng một câu chuyện viễn tưởng, nhưng với tài hoa và sự sáng tạo độc đáo của Tản Đà, bài thơ lại có sức hấp dẫn đặc biệt. Nhà thơ đã bao bọc câu chuyện hầu Trời bằng sương khói mờ ảo hư thực của giấc mơ. Là mơ nên đôi cánh của sự tưởng tượng thỏa sức tiêu du, có thể theo đường mây lên thiên môn đế khuyết, lại có thể rẽ về nẻo trần ai làm tròn bổn phận truyền bá thiên lương mà Trời đã tin tưởng giao phó. Là mơ nhưng thi sĩ lại vẽ ra những cảnh rất thực, những cảm xúc của người đi ra từ giấc mơ bởi thế vẫn chân thực đến nguyên vẹn. Khổ thơ mở đầu đã khéo léo dẫn dắt người đọc từ thế giới thực nhập vào giấc mơ:

Đêm qua chẳng biết có hay không

Chẳng phải hoảng hốt không mơ mòng.

Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể

Thật được lên tiên sướng lạ lùng.

Mọi thứ diễn ra đều là thật, Chẳng phải hoảng hốt không mơ mòng. Sự thật được đinh ninh: Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể/ Thật được lên tiên. Đó là cái thật của cảm xúc, thật về một giấc mơ, thật của khát vọng mà thi sĩ vẫn hoài vọng. Cách mở đầu như vậy tạo ra một sức hấp dẫn đặc biệt cho câu chuyện sắp được kể. Người đọc cứ thế bị lôi cuốn vào câu chuyện trong giấc mơ ấy.

Tản Đà.
Tản Đà.

3.

Lên Trời, gặp tiên, được hầu Trời, đó là điều mà thi sĩ ước mãi. Có được cơ hội đó nguyên do là đang lúc nửa đêm Trời nghe hạ giới ai ngâm nga; Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà. Tiếng ngâm Làm Trời mất ngủ, Trời đương mắng và thế là Trời truyền lệnh Có hay lên đọc Trời nghe qua. Thi sĩ khiêm tốn Văn chương nào có hay cho lắm/ Trời đã sai gọi thời phải lên. Đường lên Trời đã có bao điều mới lạ, khác hẳn hạ giới, trần ai:

“Theo hai cô tiên lên đường mây

Vù vù không cánh mà như bay.

Cửa son đỏ chói, oai rực rỡ

Thiên môn đế khuyết như là đây!

Vào trông thấy Trời, sụp xuống lạy

Trời sai tiên nữ dắt lôi dậy.

Ghế bành như tuyết vân như mây

Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy”.

Ngay khi lên đến Trời, nhận được lệnh truyền Văn sĩ đọc văn nghe, thi sĩ như được dịp trổ hết tài năng:

“Đọc hết văn vần sang văn xuôi

Hết văn thuyết lí lại văn chơi”.

Trước sự tán dương nồng nhiệt khi Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay/ Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi/ Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày/ Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng/ Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay, thi sĩ dẫn ra hàng loạt tác phẩm của mình được in bán dưới hạ giới:

“Hai quyển Khối tình văn thuyết lí

Hai Khối tình con là văn chơi

Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết

Đài gương, Lên sáu văn vị đời

Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch

Đến quyển Lên tám nay là mười”.

Trong lời kể của thi sĩ có cả niềm tự hào về bút lực dồi dào, thi tứ phóng khoáng, bay bổng, khả năng phóng bút trên nhiều lĩnh vực khác nhau của địa hạt văn chương mà không phải ai cũng làm được. Niềm tự hào đó xuất phát từ ý thức về tài năng, về cái tôi cá nhân của các tác giả văn học Việt Nam vào những năm đầu của thế kỉ XX.

Thi sĩ còn tự tôn tài năng của mình qua việc miêu tả thái độ thán phục, xuýt xoa của các vị chư tiên và của Trời:

- Văn đã giàu thay, lại lắm lối

- Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:

“Anh gánh lên đây bán chợ Trời”

- Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt!

Văn trần được thế chắc có ít!

Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!

Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!

Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!

Lời ban khen đó là sự thẩm định cao nhất cho một tài năng.

Cậy tài, khoe tài không phải là điều mới lạ ở các nhà nho tài tử xưa. Nguyễn Công Trứ khi tổng kết cuộc đời làm quan của mình đã từng tự hào:

“Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Khi thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng”.

Thay vì thị tài trong chuyện kinh bang tế thế, Tản Đà tự hào về tài văn thơ. Điều này cũng chỉ có văn học đang bắt đầu một cuộc cách tân.

4.

Sau khi nghe thi sĩ đọc thơ, ngâm văn, kể về sự nghiệp sáng tác của mình, Trời đã hết lời khen và truyền hỏi Chẳng hay văn sĩ tên họ gì?/ Người ở phương nào, ta chưa biết, thi sĩ đã rất tự tin xưng danh đĩnh đạc:

- Dạ, bẩm lạy Trời con xin thưa

Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn

Quê ở Á châu về Địa cầu

Sông Đà núi Tản nước Nam Việt.

Trước Tản Đà ta cũng từng bắt gặp nhiều cách xưng danh trong thơ. Lời Mời trầu của bà chúa thơ Nôm thật nhỏ nhẹ, kèm theo lời tự xưng: Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi/ Này của Xuân Hương đã quệt rồi; Nguyễn Công Trứ cũng làm vậy khi tổng kết cuộc đời mình trong Bài ca ngất ngưởng: Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng; Nguyễn Du khi Độc “Tiểu Thanh kí” thì tự vấn: Không biết ba trăm năm lẻ nữa/ Người đời ai khóc Tố Như chăng?... Nhưng đến Hầu Trời, lần đầu tiên trong văn học dân tộc chúng ta bắt gặp một lời giới thiệu, khẳng định, đề cao cá nhân một cách ngạo nghễ đến thế. Khúc dạo đầu này mở ra cả một cuộc cách mạng giải phóng cái tôi cá nhân cho Thơ mới về sau.

Thi sĩ Tản Đà thì giới thiệu rất rành rọt về họ, tên, quê quán, quốc gia, châu lục, hành tinh. Tên họ được tách ra, nêu tên trước, xưng họ sau. Thấp thoáng trong đó một nụ cười hóm hỉnh bởi cái vẻ thật thà, thành khẩn của vị trích tiên trước đấng chí tôn.

Đằng sau lối xưng danh đó là một ý thức cá nhân, ý thức dân tộc rất đậm nét. Một cái tên trong “giấy khai sinh” - tên thật chứ không phải tên hiệu được nói ra trang trọng, đàng hoàng, đĩnh đạc như vậy chứng tỏ giá trị không thể phủ nhận gắn liền với nó. Sự hiện diện của nó có ý nghĩa, hiển hiện giữa sông, núi Á châu của địa cầu chứ không phải “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”. Trong bối cảnh bức địa đồ sông núi “rách tả tơi”, đất nước đã mất chủ quyền, niềm tự hào, kiêu hãnh của Tản Đà thể hiện một thái độ tự tôn dân tộc, một “tình cảm non nước” rất đáng trân trọng.

Khi nghe xong lời giới thiệu Trời ngợ một lúc lâu rồi Sai thiên tào lấy sổ xét. Trong sổ thiên tào quả có tên Khắc Hiếu/ Đày xuống hạ giới vì tội ngông, nhưng Trời lại ôn tồn không phải là Trời đày/ Trời định sai con một việc này/ Là việc thiên lương của nhân loại/ Cho con xuống thuật cùng đời hay. Thì ra, tên tuổi ấy xuất hiện ở trần gian là với một thiên chức cao quý mà Trời đã giao phó. Mượn lời Trời, thi sĩ thể hiện ý thức về sứ mệnh của mình, đó cũng có thể xem là sứ mệnh của tất cả những nghệ sĩ chân chính.

5.

Đảm lãnh trọng trách làm cho thiên lương được hưng thịnh ở hạ giới, Tản Đà - người thứ nhất đã có can đảm làm thi sĩ (Xuân Diệu) đã đối diện với cảnh thực nghèo khó khi:

“Trần gian thước đất cũng không có

Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều

Vốn liếng còn một bụng văn đó.

Giấy người mực người thuê người in

Mướn cửa hàng người bán phường phố.

Văn chương hạ giới rẻ như bèo

Kiếm được đồng lãi thực rất khó.

Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều

Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.

Lo ăn lo mặc hết ngày tháng

Học ngày một kém tuổi càng cao

Sức trong non yếu ngoài chen rấp

Một cây che chống bốn năm chiều.

Trời lại sai con việc nặng quá

Biết làm có được mà dám theo”.

Người xưa viết văn làm thơ là để trao tặng, răn mình, kí thác nỗi niềm, nhưng vào những năm đầu thế kỉ XX, khi xã hội Việt Nam đã chuyển sang chế độ thực dân - phong kiến, khi thực dân Pháp đã bắt đầu khai thác thuộc địa, khi văn hóa phương Tây mà đặc biệt là văn hóa Pháp đã ảnh hưởng sâu rộng đến nước ta, khi trong xã hội xuất hiện một lớp công chúng mới có đời sống thị hiếu mới, thì văn chương đã trở thành một nghề kiếm sống.

Toàn bộ khung cảnh đời sống của người viết văn, làm thơ lúc bấy giờ đã hiện lên một cách đầy đủ trong lời trần tình của Tản Đà. Dẫu vẫn biết kiếm sống bằng nghề này, ở thời buổi này thực còn vất vả, nhưng đã là nghề thì phải có tài, phải chuyên tâm để theo đuổi sự nghiệp. Nghệ sĩ không thể vì cảnh áo cơm ghì sát đất mà cẩu thả trong văn chương. Tất cả điều đó “Con không nói Trời đã biết/ Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết, Trời căn dặn:

“Thôi con cứ về mà làm ăn

Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết!”

Sau lời đinh ninh đó, màn hầu Trời khép lại, một cuộc tiễn biệt bịn rịn, xúc động diễn ra:

“Trời sai Khiên Ngưu đóng xe tiễn

Xe Trời đã chực ngoài thiên môn

Chư tiên ra theo cùng tiễn biệt.

Hai hàng lụy biệt giọt sương rơi

Trông xuống trần gian vạn dặm khơi.

Thiên tiên ở lại, trích tiên xuống

Theo đường không khí về trần ai”.

Khi về đến non Đoài, chỉ còn một mình giữa sân đứng riêng ngậm ngùi thi sĩ như vẫn còn bao tiếc nuối Một năm ba trăm sáu mươi đêm/ Sao được một đêm lên hầu Trời?.

Như vậy là cuộc hầu Trời trong tưởng tượng của Tản Đà chỉ diễn ra trong khoảng độ hai canh - từ lúc canh ba nằm một mình cho đến khi Trăng tà đưa lối về non Đoài, nhưng nỗi niềm của nhà thơ, khao khát của thi sĩ thì còn mãi dư vang trong lòng người đọc.

Hầu Trời được viết bằng thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do, giọng điệu thoải mái, tự nhiên và ngôn ngữ giản dị, sống động, hóm hỉnh. Đây là những dấu hiệu đổi mới về hình thức tạo bước chuyển cho cuộc cách tân thơ sau đó không lâu. Cùng với đó là sự tự biểu hiện cái tôi cá nhân - một cái tôi Tản Đà ngông, phóng túng, tự ý thức về tài năng, giá trị đích thực của mình và khao khát được khẳng định giữa cuộc đời. Bằng Hầu Trời, người của hai thế kỉ đã khởi màn cho một cuộc cách tân thơ Việt.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ