Huyền thoại về vị thánh cứu nhân độ thế
Trong dòng chảy tâm linh của người Việt, tín ngưỡng thờ Mẫu giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Nổi bật trong hệ thống điện thần Đạo Mẫu, đức thánh Hoàng Mười được đông đảo nhân dân kính ngưỡng sâu sắc, gửi gắm ước vọng về tài lộc, công danh, sức khỏe…
Ông là con thứ 10 của vua cha Bát Hải Động Đình, thiên quan trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh của vua, ông giáng trần để giúp dân, trấn thủ vùng đất Nghệ An. Theo sự tích được lưu tại Đền ông Hoàng Mười (Hưng Nguyên, Nghệ An), ông là hiện thân của một đấng nam nhi văn võ song toàn, trí dũng hơn người. Nhưng phẩm chất được nhân dân ghi nhớ nhất ở ông lại là lòng nhân ái bao la, che chở vì cuộc sống bình yên của muôn dân.
Cũng theo tích này, đức thánh Hoàng Mười là một vị tướng có công lao to lớn trong cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh (1418 - 1427). Trong một trận chiến ác liệt, ông không may bị trọng thương, ngựa chiến trung thành đưa ông về đến quê nhà thì ông trút hơi thở cuối cùng. Nơi ông mất mối đùn lên thành mộ, người xưa gọi là “thiên táng”. Để tưởng nhớ công ơn và tiếc thương vị anh hùng, triều đình và nhân dân đã lập đền thờ ngay cạnh ngôi mộ của ông.

Công lao của ông Hoàng Mười được các triều đại phong kiến ghi nhận, ban cho các thần hiệu cao quý như: “Khâm sai tiết chế Nghệ An, Quảng Nam, Thuận Hóa Đẳng xứ, Thủy bộ chư dinh, Bình chương quân quốc trọng sự, Thái úy, Vị quốc công”.
Theo tín ngưỡng dân gian xứ Nghệ, linh hồn ông Hoàng Mười được tin là đã nhiều lần giáng thế, hóa thân vào những nhân vật lịch sử kiệt xuất, những vị tướng tài ba có công với quê hương, đất nước. Trong số đó, truyền thuyết về việc ông Hoàng Mười chính là Thái sư Cương Quốc Công Nguyễn Xí (1397 - 1465) được lưu truyền rộng rãi và có sức ảnh hưởng lớn nhất.
Theo sử sách, Nguyễn Xí quê tại làng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (nay là Đông Lộc, Nghệ An). Mùa Xuân năm 1418, Lê Lợi (1385 - 1433) phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hóa) đánh đuổi quân Minh xâm lược. Trong những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa, hai anh em ruột Nguyễn Biện, Nguyễn Xí đã có mặt trong hàng ngũ nghĩa quân.
Tháng 10 năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn tiến vào Nghệ An xây dựng căn cứ địa. Trên đường tiến vào giải phóng Nghệ An, nghĩa quân đã đánh thắng nhiều trận lớn ở Khả Lưu, Bồ Ải, Trà Lân, Đỗ Gia… Trong những trận chiến đó, Nguyễn Xí đều hăng hái tiên phong và lập được nhiều chiến công lớn.
Trong 10 năm kháng chiến chống quân Minh, Nguyễn Xí tham gia nhiều trận đánh quan trọng như cuộc vây hãm thành Đông Quan, hạ thành Xương Giang, hay như chiến dịch tiêu diệt và bắt sống gần 10 vạn quân Minh sang tăng viện tại Chi Lăng năm 1427...
Đất nước sạch bóng quân thù, năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, Nguyễn Xí được xếp vào hàng “khai quốc công thần”. Với tấm lòng trung quân ái quốc, Nguyễn Xí phục vụ dưới trướng 4 vị hoàng đế triều nhà Lê: Vua Lê Thái Tổ (1428 - 1433); Lê Thái Tông (1434 - 1442); Lê Nhân Tông (1443 - 1459) và Lê Thánh Tông (1460 - 1497), đóng góp nhiều công lao to lớn đối với quốc gia.
Ngày 30 tháng 10 năm 1465, Nguyễn Xí tạ thế, hưởng thọ 69 tuổi. Để ghi nhớ công lao của bậc danh tướng, danh thần kiệt xuất, nhà vua truy tặng ông tước “Thái sư Cương Quốc Công đặc ân khai quốc”. Các triều vua sau tiếp tục phong cho ông hàm tước cao nhất “Thượng thượng đẳng Tôn thần”.


Vị thánh hóa thân giữa huyền thoại và lịch sử
Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, Nguyễn Xí còn được ca ngợi là vị quan hết lòng vì dân, cùng dân chia sẻ khó khăn, giúp đỡ bá tánh xây dựng cuộc sống ấm no, thịnh vượng. Hình ảnh một vị công thần vừa có tài quân sự, vừa gần gũi, chăm lo cho đời sống nhân dân có nhiều điểm tương đồng với phẩm chất của ông Hoàng Mười trong tâm thức dân gian.
Tuy nhiên, một chi tiết lịch sử quan trọng là Nguyễn Xí, dù là một danh tướng và công thần hàng đầu, chưa từng được triều đình Hậu Lê chính thức bổ nhiệm làm Trấn thủ Nghệ An. Điều này mở ra những hướng suy luận khác về hiện thân lịch sử của ông Hoàng Mười.
Một giả thuyết đáng chú ý khác cho rằng ông chính là Hoàng tử Lý Nhật Quang (995 - 1057), con trai thứ tám của Vua Lý Thái Tổ (974 - 1028) và là vị Tri châu đầu tiên của xứ Nghệ. Năm 1039, Lý Nhật Quang được vua Lý Thái Tông (1000 - 1054) cử vào vùng đất Nghệ An trông coi việc tô thuế. Chỉ trong thời gian ngắn, Lý Nhật Quang thể hiện được bản lĩnh, tính cách liêm trực, phát huy cao độ trách nhiệm của mình tại vùng đất này.
Năm 1041, vua Lý Thái Tông ban cho Lý Nhật Quang tước “Vương” với hiệu Uy Minh Vương và quyền “Tiết việt”, và bổ nhiệm làm Tri châu Nghệ An. Về sau, Nghệ An cũng lấy năm 1041 là năm thành lập tỉnh.
Chỉ trong vòng 16 năm, Lý Nhật Quang ra sức xây dựng vùng đất Nghệ An trở thành một châu phồn thịnh về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, làm chỗ dựa cho Thăng Long, cho triều Lý và các triều đại về sau.
Năm 1057, Lý Nhật Quang tử trận (có thuyết nói là ông mất vì bệnh), nhân dân xứ Nghệ vô cùng thương tiếc, nhớ ơn và lập đền thờ ông tại núi Quả (xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương). Sau khi mất, ông nhiều lần hiển thánh và phù hộ cho triều đình đánh thắng kẻ thù xâm lược.
Các vị vua đời sau, mỗi khi có việc quân cơ hoặc tuần du qua Nghệ An, thường đến đền Quả Sơn để thắp hương, cầu nguyện ngài phù hộ. Sự nghiệp và sự tôn kính mà nhân dân dành cho Lý Nhật Quang khiến nhiều người tin rằng ông chính là một trong những hiện thân của ông Hoàng Mười.
Cách huyện Hưng Nguyên chưa đến 10km, Đền Chợ Củi ở thị xã Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) cũng là ngôi đền linh thiêng đang thờ phụng quan Hoàng Mười. Bài văn tế của đền được các bậc cao niên soạn (theo văn tế bằng chữ Hán) có đoạn: “Sắc hiệu Khâm sai Tiết chế Nghệ An, Quảng Nam, Thuận Hóa đẳng xứ, kiêm Thủy bộ chư doanh, Bình chương quân quốc trọng sự, Thái úy Vị Quốc công”. Những danh xưng trong lời thỉnh cúng này tương đồng với thần hiệu và chức sắc của danh tướng Lê Khôi thời Hậu Lê.
Lê Khôi là cháu của vua Lê Lợi, người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh của Nghĩa quân Lam Sơn. Ông làm quan trải 3 đời vua nhà Hậu Lê với nhiều đóng góp to lớn trong xây dựng và bảo vệ vương triều. Sau khi nhà Hậu Lê thành lập, ông tiếp tục là trụ cột của triều đình, làm quan trải qua 3 đời vua Lê, với nhiều đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vương triều.
Dưới triều vua Lê Nhân Tông, Lê Khôi được phong thần hiệu “Khâm sai Tiết chế Nghệ An, Quảng Nam, Thuận Hóa đẳng xứ” và giữ chức Nhập nội Thiếu úy, được cử làm Đốc trấn Nghệ An. Đây là một chi tiết quan trọng, bởi ông là người trực tiếp cai quản, trấn giữ vùng đất Nghệ An.
Trong thời gian làm quan cai trị tại đây, danh tướng Lê Khôi đã dành nhiều tâm huyết để chăm lo đời sống của nhân dân. Ông quan tâm đến việc nông trang, chỉ đạo việc đắp đê chống lũ lụt, nhờ đó mà mùa màng trở nên tươi tốt, đời sống người dân ngày càng ấm no, sung túc.
Ngày nay, dù vẫn còn những ý kiến xung quanh hóa thân thật sự của đức thánh Hoàng Mười. Tuy nhiên, việc hóa thân ông với các nhân vật lịch sử như Lý Nhật Quang, Nguyễn Xí và Lê Khôi đã phản ánh niềm tin sâu sắc của người dân xứ Nghệ vào những bậc anh hùng luôn tận tâm vì dân, vì nước.


Điểm du lịch tâm linh không thể bỏ lỡ
Đền ông Hoàng Mười được xây dựng vào thời Hậu Lê (thế kỷ XVII) tại làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh, tọa lạc trên thế đất núi non hữu tình. Phía trước đền là dòng sông Cồn Mộc thơ mộng uốn lượn, sau lưng đền, núi Dũng Quyết sừng sững tạo nên một bức bình phong tự nhiên.
Trải qua nhiều biến cố lịch sử, đền nhiều lần bị phá hủy. Đến năm 1995, đền được tái thiết với quy mô truyền thống, bao gồm các hạng mục như: Tam quan, tắc môn, đài trung thiên, lầu cô và lầu cậu. Khu vực chính của đền được chia thành 3 tòa điện: Thượng điện, trung điện và hạ điện.
Các vật liệu xây dựng sau này chủ yếu bằng gỗ, được chạm trổ công phu với các họa tiết biểu tượng như long, lân, quy, phụng, thể hiện sự tinh xảo và tài hoa của các nghệ nhân xứ Nghệ. Ngoài ra, trong đền còn lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật quý, đặc biệt là 21 đạo sắc, bản thần tích chữ Hán và hệ thống tượng pháp có giá trị lịch sử và thẩm mỹ cao.
Hàng năm, đền tổ chức 2 kỳ lễ hội chính vào tháng 3 và tháng 10 âm lịch. Trong đó, đại lễ diễn ra vào ngày mùng 9 và mùng 10 tháng 10, thu hút hàng vạn lượt người dân địa phương và du khách thập phương về dâng hương, chiêm bái. Lễ hội Đền ông Hoàng Mười là một biểu hiện sinh động của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, một di sản đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.



Điểm nhấn đặc sắc của lễ hội chính là các diễn xướng nghi lễ hầu đồng. Đây là một hình thức thực hành tín ngưỡng độc đáo, nơi các thanh đồng (người thực hành nghi lễ) hóa thân thành các vị thần, thánh trong điện thần Tứ phủ, thông qua đó biểu đạt những ước nguyện, khát vọng của con người với thế giới thần linh.
Khi đức thánh Hoàng Mười “về ngự”, ngài thường xuất hiện với phong thái oai hùng của một vị tướng xông pha trận mạc, nhưng cũng rất hào hoa, phong nhã, lãng mạn, yêu thích văn chương, thơ phú.
Việc duy trì và tổ chức lễ hội không chỉ nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc, mà còn là dịp giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, khơi gợi niềm tự hào về truyền thống “uống nước nhớ nguồn” cho các thế hệ. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để quảng bá hình ảnh một Nghệ An giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng đến với bạn bè trong và ngoài nước.
Với những giá trị lịch sử và văn hóa to lớn, năm 2002, Đền ông Hoàng Mười được UBND tỉnh Nghệ An xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh. Năm 2019, lễ hội tại đền được Bộ VH-TT&DL công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.