Phát triển sinh kế gắn với công nghệ
Sau sáp nhập từ ngày 1/7/2025, Bắc Ninh có 99 đơn vị hành chính cấp xã (66 xã, 33 phường). Quy mô mới mang đến cơ hội phát triển, nhưng cũng đặt ra thách thức trong giảm nghèo, đặc biệt xử lý sự chênh lệch giữa các vùng phát triển cao và vùng khó khăn, nhất là các xã miền núi trước đây thuộc tỉnh Bắc Giang.
Đến cuối 2024, số hộ nghèo giảm còn 8.308 hộ (0,97%), trong đó Bắc Ninh cũ đã không còn hộ nghèo theo chuẩn đa chiều. Dự kiến hết 2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm xuống khoảng 0,56%, hoàn thành mục tiêu giảm nghèo sớm một năm so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh.
Giai đoạn 2021–2025, Bắc Ninh bố trí 950.488 triệu đồng cho Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững, trong đó 798.504 triệu đồng từ ngân sách Trung ương, 151.984 triệu đồng từ ngân sách tỉnh. Nguồn lực được tập trung triển khai thông qua 7 dự án trọng tâm: đầu tư hạ tầng thiết yếu; đa dạng hóa sinh kế; hỗ trợ sản xuất và cải thiện dinh dưỡng; phát triển giáo dục nghề nghiệp; hỗ trợ nhà ở; truyền thông giảm nghèo về thông tin và nâng cao năng lực quản lý.
Xác định công nghệ là động lực giảm nghèo bền vững, tỉnh đã ưu tiên đầu tư hạ tầng số, viễn thông và Internet, bảo đảm phủ sóng di động và mạng Internet đến 100% thôn, xóm. Tại các xã vùng sâu, vùng xa, hệ thống loa truyền thanh thông minh được lắp đặt, giúp tuyên truyền thông tin, chính sách kịp thời, hướng dẫn người dân tiếp cận dịch vụ công và thông tin cần hỗ trợ.
Người dân không chỉ được tiếp cận thông tin, tri thức nhanh chóng, thuận tiện hơn mà còn có thêm cơ hội tham gia sản xuất, kinh doanh, kết nối thị trường trong bối cảnh kinh tế số ngày càng phát triển, giúp hình thành nền tảng sinh kế lâu dài.
Các lớp bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản tại trung tâm học tập cộng đồng, hướng dẫn người dân thao tác trên cổng dịch vụ công, thanh toán điện tử, đăng ký học nghề, tìm việc làm trực tuyến. Nhờ đó, tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh trong dân cư nông thôn vượt 95%, tạo nền tảng thuận lợi cho chuyển đổi số toàn diện, đồng thời thu hẹp khoảng cách thông tin, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau.
Các nhóm yếu thế: hộ nghèo, hộ cận nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật được chú trọng, giúp họ tiếp cận dịch vụ viễn thông và công nghệ số. Qua đó, thu hẹp khoảng cách thông tin, nâng cao năng lực tự chủ trong sản xuất, tiêu dùng và quản lý sinh kế.
Trong hoạt động sản xuất, các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khuyến khích thanh niên nông thôn khởi nghiệp gắn với công nghệ, xây dựng hợp tác xã số và kết nối thương mại điện tử. Nhiều hợp tác xã tận dụng nền tảng số mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng hiệu quả sản xuất, chế biến nông sản, tạo việc làm ổn định và nâng thu nhập góp phần giảm nghèo một cách bền vững.
Năm qua, hơn 500 mô hình sinh kế đã được triển khai, trong đó 120 mô hình ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch cộng đồng. Các mô hình này giúp người dân nâng cao kỹ thuật, áp dụng giải pháp số trong quản lý sản xuất, đồng thời tiếp cận cơ hội kinh doanh mới.
Bắc Ninh cũng đã xây dựng hệ thống dữ liệu số về hộ nghèo, cập nhật theo thời gian thực, tích hợp với các dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực vay vốn, y tế, giáo dục. Giải pháp này giúp các cấp, ngành quản lý minh bạch, kịp thời đưa ra các giải pháp hỗ trợ phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân, hạn chế rủi ro bỏ sót đối tượng thụ hưởng.
Chuyển đổi số – định hướng cho tương lai
Theo ông Bùi Quang Phát - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh, chuyển đổi số đang trở thành đòn bẩy quan trọng trong chương trình giảm nghèo đa chiều.
Dù đạt nhiều kết quả, Bắc Ninh vẫn đối mặt thách thức: tỷ lệ hộ nghèo tại một số xã miền núi còn cao (khoảng 9,25%), nguy cơ tái nghèo trước biến đổi khí hậu, thiên tai và hạn chế kỹ năng số ở một bộ phận người dân, đặc biệt là người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số.
Với chủ trương chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo động lực để người dân tự chủ, xóa dần tâm lý trông chờ, ỷ lại, đồng thời hỗ trợ họ tiếp cận khoa học - công nghệ và kinh tế số để mở rộng sinh kế, Bắc Ninh đang mở ra một mô hình giảm nghèo bền vững, giúp người dân chủ động vươn lên, tạo sinh kế ổn định và thích ứng hiệu quả với bối cảnh phát triển mới.