Chuyển đổi số giáo dục hiện nay và 6 vấn đề thực tiễn địa phương

GD&TĐ - Chuyển đổi số trong giáo dục và công nghệ đã mở rộng cơ hội học tập, hỗ trợ cá nhân hóa và nâng cao hiệu quả quản lý, nhưng cũng làm xuất hiện những thách thức về chênh lệch hạ tầng, chuẩn dữ liệu, khả năng liên thông, năng lực số của đội ngũ, an toàn thông tin, quyền riêng tư và liêm chính học thuật.

Các nhà khoa học tham dự Hội thảo ngày 24/7/2026. Ảnh: Phạm Huyền
Các nhà khoa học tham dự Hội thảo ngày 24/7/2026. Ảnh: Phạm Huyền

Ngày 24/7/2026, trong khuôn khổ Hội thảo quốc gia “Đổi mới giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số: Từ chính sách đến thực tiễn địa phương” tổ chức tại Trường Đại học Hồng Đức (Thanh Hóa), các nhà khoa học, quản lý và cán bộ giáo dục toàn quốc đã luận bàn 6 vấn đề quan trọng liên quan

Những vấn đề trọng yếu của chuyển đổi số giáo dục tại địa phương

Thứ nhất, chuyển đổi số được tiếp cận như một vấn đề chính sách và quản trị hệ thống, không chỉ là đầu tư hạ tầng hay sử dụng phần mềm. Nhiều nghiên cứu đã tập trung luận giải về hệ sinh thái giáo dục số, quản trị học thuật, quản lý đào tạo, môi trường học tập thông minh, kiểm định chất lượng, quản lý khoa học và công nghệ, mô hình đại học đổi mới sáng tạo và gắn kết đào tạo với nhu cầu nhân lực địa phương. Điểm chung là yêu cầu cụ thể hóa chính sách bằng mô hình quản trị có mục tiêu, dữ liệu, trách nhiệm giải trình và cơ chế phối hợp rõ ràng.

Thứ hai, phát triển năng lực số của đội ngũ và người học là điều kiện quyết định chất lượng chuyển đổi số giáo dục. Các nghiên cứu đề xuất khung năng lực số cho giảng viên, sinh viên sư phạm, cán bộ Đoàn, giáo viên mầm non; đồng thời đánh giá năng lực nghiên cứu số, sáng tạo nội dung số và thiết kế chương trình theo chuẩn đầu ra nghề nghiệp. Năng lực số vì thế không chỉ là kỹ năng sử dụng công cụ, mà còn bao gồm năng lực đánh giá thông tin, thiết kế học liệu, hợp tác số, sử dụng dữ liệu, bảo đảm an toàn, đạo đức và thích ứng nghề nghiệp.

Thứ ba, trí tuệ nhân tạo (AI), đặc biệt là trí tuệ nhân tạo tạo sinh (GenAI), mở ra nhiều khả năng trong dạy học, học tập và nghiên cứu nhưng cũng đặt ra các vấn đề về lạm dụng công cụ, suy giảm nỗ lực nhận thức, lệ thuộc công nghệ và liêm chính học thuật. Các nghiên cứu về trợ lý ảo, ChatGPT, Gemini, NotebookLM, mô phỏng thí nghiệm, đánh giá kỹ năng nói và cá nhân hóa học tập cho thấy vấn đề cốt lõi không còn là có sử dụng AI hay không, mà là sử dụng với mục tiêu sư phạm nào, dưới sự kiểm soát nào và theo chuẩn mực đạo đức nào. AI cần hỗ trợ, không thay thế phán đoán sư phạm và trách nhiệm học thuật.

Thứ tư, đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá, tiếp tục hướng tới phát triển phẩm chất, năng lực người học. Các công trình về STEM, B-Learning, CDIO, dạy học theo bối cảnh, mô hình hóa toán học, trò chơi học tập, giáo dục trải nghiệm và giáo dục di sản cho thấy xu hướng chuyển từ truyền thụ nội dung sang tổ chức hoạt động học tập tích cực. Công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi được đặt trong một thiết kế dạy học có cơ sở và đi cùng công cụ đánh giá đáng tin cậy.

Hội thảo nhận được 133 bài báo của các nhà khoa học, nhà quản lý, giảng viên và cán bộ thực tiễn; gần 100 đại biểu khoa học trên toàn quốc tham dự; 4 tham luận chính và nhiều ý kiến bàn luận liên quan

Thứ năm, yêu cầu bảo đảm tính nhân văn, công bằng và bao trùm được thể hiện rõ qua các nghiên cứu về bình đẳng giới trong giáo dục STEM, giáo dục đạo đức, hỗ trợ tâm lý học đường, chăm sóc ứng đáp, điều chỉnh cảm xúc, hỗ trợ thanh thiếu niên rối loạn phổ tự kỉ và năng lực trung gian số của cha mẹ. Một nền giáo dục số tiến bộ phải góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận, bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương, tăng cường sự tham gia của gia đình và bảo đảm cơ hội phát triển cho mọi người học.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Anh - Thành viên Hội đồng quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực tham luận tại Hội thảo. Ảnh: Nguyễn Minh

Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Anh - Thành viên Hội đồng quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực tham luận tại Hội thảo. Ảnh: Nguyễn Minh

Bàn luận về năng lực trung gian số và sự hình thành nhân cách học sinh phổ thông hiện nay, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Anh, Thành viên Hội đồng quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, đánh giá: “Theo khung lý thuyết DSMM (Differential Susceptibility to Media Effects Model), tác động của môi trường số không đồng đều cho mọi học sinh: sự khác biệt về tính cách, kỹ năng, hoàn cảnh gia đình và mức độ hỗ trợ xã hội khiến cùng một tác nhân số có thể tạo ra ảnh hưởng tích cực với em này nhưng lại gây hệ quả tiêu cực với em khác. Vì vậy, vai trò trung gian số của cha mẹ, thông qua kiểm soát, trò chuyện định hướng, đồng hành và làm gương chính là yếu tố điều tiết quan trọng, giúp giảm thiểu rủi ro và củng cố những giá trị nhân cách cốt lõi cho học sinh. Hiệu quả trung gian số của cha mẹ chịu tác động bởi nhiều yếu tố đan xen như đặc điểm nhân khẩu học (tuổi, giới tính, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế - xã hội), năng lực số, cũng như nhận thức và thái độ của phụ huynh đối với công nghệ. Cha mẹ có kỹ năng công nghệ tốt thường dễ dàng thực hiện những chiến lược mềm dẻo như đối thoại hoặc đồng hành, trong khi những phụ huynh thiếu tự tin về năng lực số lại có xu hướng kiểm soát cứng nhắc. Bên cạnh đó, sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội cũng tạo ra khoảng cách trong cơ hội tiếp cận và sử dụng các biện pháp trung gian số”.

Thứ sáu, tính địa phương và khả năng chuyển hóa chính sách thành thực tiễn được phản ánh xuyên suốt các các nghiên cứu tại Thanh Hóa, Đồng bằng sông Cửu Long, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Phú Thọ, Thái Nguyên và nhiều cơ sở giáo dục cụ thể. Những kết quả này cho thấy hiệu quả triển khai phụ thuộc lớn vào năng lực quản trị, nguồn lực, văn hóa tổ chức, chất lượng đội ngũ và đặc điểm người học. Vì vậy, chính sách cần thiết lập chuẩn mực chung nhưng vẫn dành không gian cho từng cơ sở lựa chọn lộ trình và mô hình phù hợp.

Nhiều giải pháp chiến lược và thực tiễn

Chuyển đổi số không chỉ là bài toán kỹ thuật mà còn là quá trình đổi mới quản trị, dạy học, đánh giá, phát triển đội ngũ và văn hóa học thuật. Hội thảo được tổ chức nhằm kết nối định hướng chính sách với thực tiễn địa phương, chia sẻ mô hình, kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp có khả năng đo lường, nhân rộng.

Qua những phân tích về cơ chế, chính sách chuyển đổi số quốc gia, GS.TS Trần Trung, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đề xuất 6 bài toán chiến lược định hình Kỷ nguyên mới: “Hệ sinh thái dữ liệu thống nhất và được cập nhật theo thời gian thực; hồ sơ học tập số toàn diện để ghi nhận học tập suốt đời; nền tảng dùng chung quốc gia không phân tán, cục bộ; hệ sinh thái AI có đạo đức và an toàn lấy con người làm trung tâm; hệ thống đánh giá thực chất đo được giá trị mang lại, không phải đo đếm thiết bị; đặc biệt là phải xoá bỏ khoảng cách số, bình đẳng trong cơ hội tiếp cận”.

14.jpg
GS.TS Trần Trung - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Ảnh: Nguyễn Minh

Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Anh cũng chia sẻ: “Giáo dục nhân cách số cho học sinh cần được đặt ở vị trí trung tâm, giúp học sinh không chỉ làm chủ công nghệ mà còn biết sống có trách nhiệm, trung thực, tôn trọng và thấu cảm cả trong không gian trực tuyến lẫn đời sống thực. Để hình thành thế hệ học sinh an toàn, tự chủ và giàu giá trị trong kỷ nguyên số, cần sự phối hợp đồng bộ của ba trụ cột: gia đình - nhà trường - xã hội. Trong đó, năng lực trung gian số của cha mẹ là nền tảng quan trọng, góp phần định hướng hành vi, nuôi dưỡng nhân cách và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của học sinh trong thời đại số”.

Từ số liệu nghiên cứu về bình đẳng nữ giới trong đào tạo giáo viên nữ STEM, PGS.TS Trần Văn Hưng, Trưởng nhóm nghiên cứu Đổi mới sáng tạo và Công nghệ giáo dục số (Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng) đề cập nhóm giải pháp “3 tầng 7 giải pháp”: “Tích hợp bình đẳng giới vào chuẩn đầu ra; lồng ghép vào chương trình đào tạo; phát triển động lực giảng viên; đổi mới phương pháp đào tạo; xây dựng môi trường nhạy cảm giới; đổi mới kiêm tra, đánh giá năng lực; thiết lập mạng lưới hỗ trợ STEM nữ giới”.

15.jpg
PGS.TS Trần Văn Hưng, Trưởng nhóm nghiên cứu Đổi mới sáng tạo và Công nghệ giáo dục số (Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng). Ảnh: Nguyễn Minh

PGS.TS Đào Thái Lai, Viện Khoa học Giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo), chuyên gia về công nghệ giáo dục nhấn mạnh vai trò của dữ liệu huấn luyện trong nền tảng dữ liệu chung quốc gia: “Cần chú trọng quá trình giáo dục cá nhân hoá. Phát triển “trợ lý ảo thông minh”, huấn luyện bằng cơ sở dữ liệu lớn và cơ sở dữ liệu đó phải dùng được hiệu quả, phải qua quá trình lọc “dữ liệu sạch” theo tiêu chuẩn”.

PGS.TS Phạm Văn Thuần, Phó Giám đốc Học viện Quản lý Giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo): “Để triển khai chính quyền địa phương hai cấp, với hiện trạng sáp nhập các cơ sở giáo dục và đào tạo, cần phát triển phương thức quản trị số, bồi dưỡng năng lực số với giáo viên, học sinh, sinh viên, thậm chí xây dựng khung năng lực số cho phụ huynh”.

Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số: Từ chính sách đến thực tiễn địa phương” là diễn đàn học thuật quan trọng, góp phần làm rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới giáo dục gắn với chuyển đổi số, đồng thời đề xuất các giải pháp thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tiễn của các địa phương, qua đó nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay.

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ