Kết quả đạt được trong bối cảnh đất nước đối mặt không ít khó khăn, thách thức sẽ là nền móng vững chắc để nước ta tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều triển vọng khả quan.
Khẳng định năng lực chống chịu và phục hồi
Năm 2025 đánh dấu một năm tăng trưởng rất khả quan của kinh tế Việt Nam với mức tăng trưởng GDP đạt 8,02%. Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 12, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi cho biết, tính chung cả nhiệm kỳ, cả nước đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu. Các năm 2024, 2025 đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội.
Trong đó, tăng trưởng kinh tế năm 2025 thuộc nhóm dẫn đầu thế giới; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm; khả năng chống chịu của nền kinh tế nước ta trước các cú sốc bên ngoài ngày càng được nâng lên.
Các động lực tăng trưởng truyền thống đều phát huy hiệu quả, với tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2025 ước đạt trên 4,15 triệu tỷ đồng, chiếm 32,3% so với GDP; trong 5 năm ước đạt trên 17,3 triệu tỷ đồng, tăng 44% so với giai đoạn trước.
Tổng vốn FDI đăng ký giai đoạn 2021-2025 đạt 184,2 tỷ USD, tăng gần 8,4% so với giai đoạn trước. Quy mô thương mại tăng từ 545,4 tỷ USD năm 2020 lên mức kỷ lục trên 930 tỷ USD năm 2025, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới.
Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực; khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được triển khai quyết liệt, đạt kết quả bước đầu quan trọng; nhiều dự án tồn đọng, kéo dài nhiều năm, nhiều nhiệm kỳ được xử lý quyết liệt, đạt kết quả tích cực, góp phần giải phóng nguồn lực cho phát triển.
Ở góc độ điều hành, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi nhận định, giai đoạn 2021 - 2025, kinh tế Việt Nam đã thể hiện rõ năng lực chống chịu và phục hồi, duy trì tốc độ tăng trưởng cao và nằm trong nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh của thế giới.
Hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 và các năm tiếp theo, Chính phủ sẽ tập trung củng cố, nâng cao hiệu quả các động lực tăng trưởng truyền thống, đồng thời phát huy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới.
Trọng tâm trước hết là tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy xây dựng và thực thi pháp luật theo hướng kiến tạo và phát triển; tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo, qua đó tạo môi trường thuận lợi cho các chủ thể kinh tế phát triển.
Việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển được xác định là nhiệm vụ then chốt. Đầu tư công tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, trong khi thu hút đầu tư nước ngoài được nâng cao về chất lượng và hiệu quả, gắn với chuyển giao công nghệ và phát triển chuỗi giá trị.
Thị trường vốn và thị trường tài chính sẽ được phát triển đồng bộ nhằm đa dạng hóa các kênh huy động vốn trung và dài hạn, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, đặc biệt trong khu vực sản xuất.
Bên cạnh đó, mô hình tăng trưởng được định hướng chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát huy vai trò động lực của công nghiệp chế biến, chế tạo; đồng thời phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu thị trường và yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.
Khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục được xác định là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, với các chính sách tạo điều kiện để khu vực này tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực then chốt, các dự án lớn và chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu, đúng tinh thần Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị.
Song song với đó, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là hạ tầng chiến lược, được coi là nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Trọng tâm là hạ tầng giao thông, logistics, hạ tầng số và hạ tầng năng lượng, bảo đảm an ninh năng lượng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới.
Nhấn mạnh mục tiêu của giai đoạn tới, Thứ trưởng Nguyễn Đức Chi khẳng định quyết tâm phấn đấu đạt tăng trưởng hai con số ngay từ năm 2026, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Với sự chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ cùng việc triển khai hiệu quả các giải pháp trọng tâm, mục tiêu này được đánh giá là có cơ sở và hoàn toàn khả thi.
Những quyết sách kịp thời, linh hoạt
Nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng được đánh giá là một giai đoạn có nhiều dấu ấn đặc biệt, nhất là trong bối cảnh đất nước phải đối mặt với những khó khăn chưa từng có tiền lệ.
Theo PGS.TS Bùi Thị An, đại biểu Quốc hội khóa XIII, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng, nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đã có những Nghị quyết, quyết sách chiến lược, quan trọng, tạo nền tảng cho nhiệm kỳ Đại hội XIV sắp tới.
Trong nhiệm kỳ, dấu ấn lớn nhất chính là việc Việt Nam đã vượt qua giai đoạn đặc biệt khó khăn do đại dịch Covid-19 gây ra, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định xã hội và bảo đảm đời sống Nhân dân. Trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu, việc duy trì được ổn định đã là một thành công rất lớn.
Kết quả đó xuất phát từ tầm nhìn chiến lược đúng đắn của Đảng và Đại hội XIII, thể hiện ở những quyết sách kịp thời, quyết liệt, linh hoạt, giúp đất nước không chỉ vượt qua khó khăn trước mắt mà còn định hình rõ hướng phát triển dài hạn. Đại hội XIII đã xác lập tầm nhìn phát triển đến năm 2030 và xa hơn là năm 2045, đây là những mốc chiến lược quan trọng, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước trong tương lai.
Một dấu ấn quan trọng khác của nhiệm kỳ XIII là sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy phát triển, chuyển từ trọng tâm tăng trưởng sang phát triển bền vững và bao trùm.
Theo PGS.TS Bùi Thị An, nếu trước đây tăng trưởng GDP thường được xem là thước đo chủ yếu, thì nay phát triển được nhìn nhận toàn diện hơn, gắn với an sinh xã hội, chất lượng cuộc sống, hạnh phúc của người dân và bảo vệ môi trường. Tăng trưởng kinh tế phải song hành với tiến bộ xã hội, môi trường sống trong lành và nguyên tắc “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
“Nhiệm kỳ XIII đã khẳng định rõ vai trò của khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng, động lực then chốt cho phát triển đất nước. Đây được coi là trụ cột quan trọng để thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển xanh và phát triển bền vững. Phát triển xanh không chỉ là tăng trưởng về quy mô mà còn là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, đồng thời bảo đảm môi trường và tính bao trùm trong phát triển.
Hàng loạt nghị quyết quan trọng được ban hành, trong đó có Nghị quyết 57, đã tạo động lực mạnh mẽ cho khoa học - công nghệ và đội ngũ cán bộ khoa học, mở ra triển vọng mới cho giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước”, PGS.TS Bùi Thị An nhấn mạnh.
PGS.TS Bùi Thị An nhìn nhận, Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân thông qua các chủ trương, nghị quyết lớn, trong đó có Nghị quyết 68, nhằm huy động và phát huy hiệu quả các nguồn lực xã hội cho phát triển.
Song song với phát triển kinh tế - xã hội, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ ngày càng trong sạch, vững mạnh. Nhờ đó, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội.
Đáng chú ý, nhiệm kỳ XIII cũng ghi dấu ấn rõ nét trong đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, chuyển từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, từng bước tháo gỡ các nút thắt về thể chế, tạo môi trường thuận lợi hơn cho phát triển đất nước.
Có thể khẳng định, với những dấu ấn toàn diện và sâu sắc, nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đã tạo nền tảng vững chắc, định hướng rõ ràng cho sự phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam trong giai đoạn mới.
Theo đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Việt Nam nằm trong nhóm 10 nền kinh tế tăng trưởng cao nhất thế giới. Ngân hàng Standard Chartered dự báo Việt Nam thuộc nhóm 5 quốc gia tăng trưởng nhanh nhất châu Á. Ngân hàng Thế giới cũng xếp Việt Nam vào nhóm 21 nền kinh tế có thành tích nổi bật trong năm 2025.