Học nghề, có việc làm
Ở thôn Bình Lương 1, xã miền núi Hóa Quỳ (Thanh Hóa), bà Nguyễn Thị Dậu (69 tuổi) tranh thủ những lúc nông nhàn ngồi đan bèo tây. Trước đây, bà làm nghề đốt than, công việc vất vả, thu nhập không ổn định. Sau khi tham gia lớp đào tạo nghề dành cho lao động nông thôn, bà chuyển sang học đan bèo.
“Lúc đầu chưa quen tay nên khó, nhưng làm nhiều rồi cũng thành thạo. Nghề này có thể tranh thủ lúc nông nhàn, phù hợp với hoàn cảnh của tôi”, bà Dậu nói.
Sau khoảng 2 tháng, bà có hơn 5 triệu đồng tiền công từ đan bèo. Với một hộ còn khó khăn, đây là khoản thu nhập thiết thực, nhất là khi công việc không đòi hỏi phải rời quê.
Ở thôn Hóa Quỳ 1, vợ chồng bà Hoàng Thị Mai (54 tuổi), ông Lê Đình Phúc (58 tuổi) cũng tranh thủ việc nhà làm thêm nghề phụ để có thêm thu nhập. Ông Phúc mắc bệnh ung thư trực tràng, sức khỏe yếu, không làm được việc nặng. Vì vậy, nghề đan bèo tây trở thành công việc phù hợp để hai vợ chồng tranh thủ lúc rảnh rỗi, vừa làm việc nhà vừa có thêm thu nhập.
Không riêng bà Dậu, nghề đan bèo tây đang thu hút nhiều nhóm lao động ở Hóa Quỳ. Ông Lê Đăng Long (61 tuổi), ở thôn Quang Trung, dù tuổi cao, sức khỏe hạn chế, thường xuyên đau chân, vẫn tham gia học nghề và đến nay đã bước đầu có thu nhập. Công việc có thể thực hiện tại tổ sản xuất hoặc tại nhà, làm theo sức nên phù hợp với những người không thể đảm đương các công việc nặng.
Chị Lô Thị Chuân (36 tuổi), thôn Xuân Quỳ, thuộc diện hộ nghèo, có 4 con, trong đó 3 cháu còn nhỏ. Trước kia, công việc chủ yếu của chị là đi rừng lấy măng. Từ khi có nghề đan bèo, chị tranh thủ thời gian nông nhàn vừa chăm con vừa đan bèo tăng thu nhập gia đình.
Em Lê Bảo Nhi, học sinh lớp 6 Trường THCS Hóa Quỳ, thuộc hộ cận nghèo, cũng tranh thủ thời gian cùng bà tham gia đan bèo. Với em, đó là những giờ phút phụ giúp gia đình; còn với gia đình, mỗi sản phẩm hoàn thành là thêm một khoản thu nhập.
Những trường hợp trên cho thấy nghề đan bèo tây khá linh hoạt, phù hợp với điều kiện của nhiều nhóm lao động nông thôn. Người dân có thể tranh thủ thời gian rảnh, vừa làm nông nghiệp vừa có thêm nghề phụ. Với các hộ nghèo, cận nghèo và gia đình còn khó khăn, một công việc tạo thu nhập ngay tại địa phương có ý nghĩa thiết thực.
Từ những người học nghề, các nhóm sản xuất nhỏ dần hình thành. Chị Trương Thị Oanh (39 tuổi), thôn Bình Lương 1, cùng các thành viên trong tổ thường xuyên hỗ trợ nhau trong quá trình làm sản phẩm. Người mới học được hướng dẫn từng công đoạn; người đã quen tay chia sẻ kinh nghiệm để sản phẩm đạt yêu cầu.
Theo chị Oanh, đan bèo không khó nhưng muốn sản phẩm đẹp, đều và chắc phải kiên trì. Người mới thường phải làm đi làm lại nhiều lần mới quen tay.
Từ những nhóm sản xuất như vậy, Hợp tác xã sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ của lao động nông thôn Hóa Quỳ được thành lập với 42 thành viên. Sau một thời gian hoạt động, số thành viên tăng lên hơn 150 người, trong đó có 45 thành viên thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
HTX hiện có 11 tổ sản xuất tại nhiều thôn của Hóa Quỳ và liên kết với một số nhóm lao động ở địa bàn lân cận. Từ chỗ sản xuất nhỏ lẻ, người dân bắt đầu tham gia vào quy trình có tổ chức hơn, từ nhận đơn hàng, phân chia sản phẩm đến hoàn thiện và giao hàng.
Đơn hàng đầu tiên của HTX đã hoàn thành với hơn 9.000 sản phẩm. Đơn hàng thứ hai đang được triển khai, trong đó hơn 3.000 sản phẩm đã hoàn thành.
Theo thông tin từ HTX, tổng thu nhập của các thành viên từ hoạt động sản xuất đến nay đạt hơn 100 triệu đồng. Thu nhập bước đầu của người lao động dao động từ 1,5-3 triệu đồng/người/tháng.
Đánh giá về mô hình, ông Lê Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã Hóa Quỳ, cho rằng điểm đáng ghi nhận là việc đào tạo nghề đã gắn với tạo việc làm và thu nhập thực tế cho người dân.
“Người dân không chỉ được học thêm một nghề mà sau khi học đã có việc làm, có thu nhập. Từ những nhóm sản xuất nhỏ, bà con biết liên kết với nhau, thành lập HTX và từng bước tổ chức sản xuất theo đơn hàng. Đây là hướng đi phù hợp với điều kiện lao động ở địa phương”, ông Tuấn nói.
Theo ông Tuấn, mô hình còn có ý nghĩa đối với công tác giảm nghèo khi thu hút nhiều hộ nghèo, cận nghèo và gia đình khó khăn tham gia. Việc có thể làm nghề tại nhà hoặc ở các tổ sản xuất giúp người dân tận dụng thời gian nông nhàn, đồng thời hạn chế việc phải đi làm ăn xa.
Từ nghề phụ đến hướng sinh kế
Khi hoạt động sản xuất dần đi vào nền nếp, HTX bắt đầu tính đến việc chủ động nguồn nguyên liệu. Bèo tây vốn có sẵn ở nhiều ao, hồ, vùng trũng. Đến nay, 3 hộ thành viên đã bước đầu tự trồng, nhân giống và tận dụng bèo tây làm nguyên liệu. HTX dự kiến vận động thêm các hộ có điều kiện tham gia phát triển nguồn nguyên liệu tại chỗ.
Nếu làm tốt, từ nghề đan có thể hình thành một chuỗi công việc gồm hộ trồng bèo, hộ sơ chế nguyên liệu, hộ đan sản phẩm, HTX tập hợp lao động, tổ chức sản xuất và kết nối đơn hàng. Khi đó, việc làm không chỉ nằm ở công đoạn đan mà còn mở rộng sang các khâu khác.
Đây cũng là hướng xã Hóa Quỳ kỳ vọng. Theo ông Lê Anh Tuấn, nếu duy trì được đầu ra, nâng cao chất lượng sản phẩm và từng bước chủ động nguyên liệu, nghề đan bèo tây có thể phát triển thành một hướng sản xuất phù hợp, tạo sinh kế lâu dài hơn cho người dân.
Tuy nhiên, để nghề đứng vững, bài toán lớn nhất vẫn là đầu ra. Có đơn hàng, người dân mới có việc làm; sản phẩm tiêu thụ ổn định thì người lao động mới có thể gắn bó lâu dài. Việc hoàn thành hơn 9.000 sản phẩm ở đơn hàng đầu tiên và tiếp tục triển khai đơn hàng thứ hai là tín hiệu tích cực, nhưng HTX vẫn cần thêm những đơn hàng ổn định và thị trường lâu dài.
Bên cạnh đó là vấn đề đào tạo và chứng chỉ nghề. Một số lao động học bổ sung sau các lớp đào tạo nhưng chưa được cấp chứng chỉ, trong khi đây là yêu cầu cần thiết để đáp ứng điều kiện ký kết các hợp đồng dài hạn với doanh nghiệp.
HTX mong muốn tiếp tục được hỗ trợ đào tạo nghề, nâng cao tay nghề, chuẩn hóa sản phẩm, kết nối thị trường và xây dựng nguồn nguyên liệu. Cùng với đó là sự phối hợp của chính quyền, MTTQ, các đoàn thể và các thôn trong tuyên truyền, vận động người dân tham gia, huy động và lồng ghép các nguồn lực để mở rộng sản xuất.
Mục tiêu xa hơn là đưa nghề đan bèo tây trở thành một hướng phát triển kinh tế của địa phương, tiến tới xây dựng làng nghề.
Từ 42 thành viên ban đầu lên hơn 150 thành viên, từ những người chưa biết nghề đến những đơn hàng hàng nghìn sản phẩm, câu chuyện đan bèo tây ở Hóa Quỳ cho thấy hiệu quả bước đầu của việc gắn đào tạo nghề với tạo việc làm.
Với bà Nguyễn Thị Dậu, nghề mới giúp có thêm thu nhập sau khi bỏ nghề đốt than. Với ông Long, đó là công việc phù hợp hơn với sức khỏe. Với chị Chuân, đó là việc làm có thể kết hợp với chăm con. Với vợ chồng bà Mai, ông Phúc, nghề đan bèo giúp có thêm thu nhập trong điều kiện sức khỏe hạn chế. Còn với các thành viên HTX, đó là công việc được duy trì bằng sự liên kết.
Từ lớp học nghề đến những sản phẩm được làm ra, từ những nhóm lao động nhỏ đến một HTX hơn 150 thành viên, nghề đan bèo tây ở Hóa Quỳ đang từng bước chuyển từ một công việc phụ thành một hướng sinh kế có tổ chức.
Chặng đường phía trước còn không ít khó khăn, nhất là về thị trường và nguồn nguyên liệu. Nhưng từ những cọng bèo tây bình dị, người dân Hóa Quỳ đang từng bước tạo thêm việc làm, giữ nguồn thu ở lại quê nhà và mở ra một hướng sinh kế mới từ chính những nguồn lực sẵn có tại địa phương.