Theo như giới chức Nga trình bày, nguyên mẫu về mặt kỹ thuật và ý tưởng của tên lửa đạn đạo tầm trung Oreshnik chính là loại RSD-10 Pioneer của Liên Xô, vốn đã thất bại trong cuộc cạnh tranh với tên lửa Pershing II của Mỹ vào những năm 1980.
Đáng chú ý, Pioneer lại vượt trội hơn về mọi thông số "trên lý thuyết" - tầm bắn xa hơn nhiều, trọng lượng đầu đạn và sức mạnh cũng lớn hơn.
Nhưng giới lãnh đạo Liên Xô ít nhất cũng phải thừa nhận sức mạnh chiến đấu ngang nhau của các tên lửa đạn đạo có mức năng lượng khác nhau và lựa chọn cái gọi là "phương án không", đồng nghĩa loại bỏ tất cả các tên lửa tầm trung, điều này đánh dấu sự khởi đầu cho sự sụp đổ của Liên Xô.
Lý do dẫn đến sự việc này đã được ông Oleksiy Yizhak - một nhà phân tích tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc gia Ukraine mô tả cụ thể.
Đặc điểm của tên lửa RSD-10 Pioneer bao gồm: trọng lượng phóng 37 tấn (khoảng 26,6 tấn tầng đầu tiên, 8,5 tấn tầng thứ hai cộng với phần chính), tầm bắn 600 - 5.000 km, vòng tròn sai số - 550 m (bán kính của vòng tròn mà một nửa số đầu đạn rơi trúng theo thống kê), độ lệch tối đa - 1,3 km.
Sức mạnh của đầu đạn trong phiên bản hạt nhân đơn khối là 1 megaton, trong cấu hình 3 đầu đạn con là 150 kiloton mỗi khối. Trọng lượng phần chính hơn 1,5 tấn.
Trong khi đó tên lửa Pershing II có trọng lượng phóng là 7,49 tấn (nhẹ hơn tầng thứ hai của RSD-10 Pioneer), tầm bắn tối đa 1.770 km, độ lệch vòng tròn 30 m (tối đa khoảng 70 m).
Công suất của một đầu đạn hạt nhân là 80 kt (so với 1 megaton trong đầu đạn nguyên khối hoặc 3 x 150 kiloton trong tên lửa của Liên Xô). Khối lượng của đầu đạn là 270 kg (so với hơn 1,5 tấn).
Tuy nhiên tên lửa nhỏ hơn đã chiến thắng trong cuộc cạnh tranh về tiềm năng chiến đấu với loại lớn hơn. Vấn đề nằm ở vật lý của sự phá hủy trong chiến đấu.
Khả năng phá hủy mục tiêu trên bề mặt trái đất được xác định bởi áp suất của sóng xung kích, trong đó khoảng cách từ điểm nổ đến mục tiêu quan trọng hơn sức mạnh của nó.
Chỉ số sức phá hủy, đôi khi được gọi là hệ số Stockholm (được SIPRI sử dụng rộng rãi để so sánh tiềm năng tấn công của các lực lượng hạt nhân), được tính bằng công suất của vụ nổ lũy thừa lập phương chia cho bình phương độ lệch tròn. Đây là một phần của công thức tính áp suất sóng xung kích như một hàm của công suất và khoảng cách.
Nếu tính toán công suất theo kiloton, độ lệch quỹ đạo tròn theo mét, ta có chỉ số về khả năng phá hủy mục tiêu của tên lửa RSD-10 Pioner là 0,13 đơn vị. Đồng thời, chỉ số này đối với tên lửa Pershing II là 0,79.
Tức là khả năng phá hủy mục tiêu được bảo vệ, chẳng hạn như hầm trú ẩn của lãnh đạo chính trị, của Pershing II cao hơn ít nhất 5 lần so với RSD-10 Pioner, đạt được nhờ vào độ chính xác cao của hệ thống dẫn đường, làm giảm nhu cầu về việc mang theo đầu đạn lớn.