Nguyên nhân của sự sụt giảm
TS Đặng Văn Sơn đến từ Trường Đại học Khoa học tự nhiên (ĐHQG Hà Nội) cho biết, nhìn vào hai biểu đồ thống kê tỷ lệ đăng ký môn thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2020 - 2025, chúng ta đang thấy một "cuộc tháo chạy" khỏi các môn Khoa học tự nhiên (KHTN) và Công nghệ, kéo theo đó là nguy cơ khủng hoảng nguồn nhân lực chất lượng cao trong kỷ nguyên số.
Biểu đồ đầu tiên về giai đoạn 2020-2024 đã cho thấy một sự phân hóa âm ỉ: Cán cân luôn nghiêng về Khoa học xã hội (KHXH) với tỷ lệ dao động quanh mức 55%, trong khi KHTN chỉ ở mức trên 30%. Nhưng phải đến biểu đồ thứ hai – minh chứng cho lứa học sinh đầu tiên thi theo Chương trình GDPT 2018 vào năm 2025, sự chênh lệch mới trở nên cực đoan.
Lịch sử và Địa lí vươn lên dẫn đầu với tỷ lệ chọn lần lượt là 42,4% và 41,8%. Ở chiều ngược lại, Vật lí chỉ còn 30,4%, Hóa học 21,2%, và Sinh học rơi xuống đáy vực với vỏn vẹn 6,2%. Các môn mang tính ứng dụng thời đại như Tin học hay Công nghệ thậm chí chưa chạm tới mốc 1%. Sự sụt giảm này đến từ đâu?
Thứ nhất, học sinh đang đặt cược vào sự an toàn. Khoa học tự nhiên đòi hỏi nền tảng tư duy logic, tính toán phức tạp và sự tích lũy dài hạn. Trong khi đó, các môn Xã hội, dẫu cần sự am hiểu, lại dễ dàng giúp các em đạt điểm "an toàn" để xét tốt nghiệp nhờ phương pháp thi trắc nghiệm.
Thứ hai, sự mất cân bằng này có một phần nguyên nhân từ chính cấu trúc của Chương trình GDPT 2018. Việc Lịch sử được đưa vào nhóm các môn học bắt buộc ở bậc THPT đã vô tình tạo ra một "lực hút" mạnh mẽ.
Khi học sinh đằng nào cũng phải dành thời gian học và ôn tập môn Lịch sử trên lớp, các em có xu hướng chọn luôn Địa lí và Giáo dục Kinh tế & Pháp luật để tạo thành một tổ hợp KHXH trọn vẹn, đồng thời "bỏ rơi" hoàn toàn các môn Vật lí, Hóa học hay Sinh học để giảm tải áp lực bài vở.
Tuy nhiên, nếu nhìn rộng ra, việc học sinh "quay lưng" với các ngành khoa học cơ bản và toán không phải là hệ lụy của riêng giáo dục Việt Nam. Thế giới gọi đây là hiện tượng "Đường ống STEM bị rò rỉ" (Leaky STEM Pipeline).
Tại Mỹ, Anh hay Australia, các báo cáo giáo dục nhiều năm qua luôn cảnh báo tình trạng học sinh trung học ngần ngại chọn các môn Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học (STEM) vì định kiến "quá khó" hay "khô khan".
Thay vào đó, giới trẻ toàn cầu đang có xu hướng ưu tiên các ngành kinh tế, truyền thông, nghệ thuật hay khoa học xã hội nhân văn – những lĩnh vực được cho là dễ học, dễ tốt nghiệp và có vẻ ngoài hào nhoáng hơn. Sự chuyển dịch này đang đẩy nhiều quốc gia phát triển vào tình thế khát khao kỹ sư công nghệ lõi, kỹ sư y sinh và nhà nghiên cứu vật liệu, nhà toán học...
Định hình vai trò của Giáo dục STEM
Việt Nam, một quốc gia đang nuôi khát vọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, không thể cho phép mình trượt theo vết xe đổ đó. Nếu không có những người trẻ say mê Vật lí, Hóa học, Sinh học hôm nay, chúng ta sẽ lấy đâu ra kỹ sư bán dẫn, chuyên gia AI hay bác sĩ, kỹ sư nông nghiệp công nghệ cao cho 10 năm tới?
"Để đảo ngược xu thế này, ép buộc học sinh học lại KHTN bằng mệnh lệnh hành chính là điều không tưởng. Cách duy nhất là khơi gợi lại tình yêu khoa học ngay từ bậc phổ thông thông qua việc thực học, thực làm. Đó chính là sứ mệnh của giáo dục STEM" - TS Đặng Văn Sơn khẳng định.
Tại Việt Nam, ngọn lửa STEM đã được nhen nhóm một cách bền bỉ từ nhiều năm trước, xuất phát từ những cá nhân và tổ chức đầy tâm huyết. Tiêu biểu phải kể đến Liên minh STEM với sự xông xáo của kỹ sư Đỗ Hoàng Sơn, người đã lặn lội mang hàng nghìn cuốn sách khoa học, bộ robot đến với học sinh nông thôn, miền núi, chứng minh rằng giáo dục STEM không phải là đặc quyền của trẻ em thành phố.
Dù vậy, theo TS Đặng Văn Sơn, những nỗ lực từ cơ sở sẽ khó tạo thành làn sóng lớn nếu thiếu đi bệ phóng từ nguồn lực vĩ mô. Thật đáng mừng, nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực khoa học công nghệ, các tập đoàn kinh tế lớn đã bắt đầu vào cuộc.
Nổi bật nhất trong thời gian qua là dự án lịch sử mang tên “STEM Innovation Petrovietnam” do Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) khởi xướng. Không dừng lại ở những khẩu hiệu, Petrovietnam đã đầu tư mạnh mẽ để xây dựng thần tốc 100 phòng thực hành STEM đạt chuẩn quốc tế tại 34 tỉnh, thành phố ngay trong năm 2025 - 2026.
Đây là một "cú huých" ngoạn mục, biến những phòng học lý thuyết trở thành những "trạm phát tri thức", nơi học sinh được chạm tay vào VEX Robotics, máy in 3D và các công cụ nghiên cứu tiên tiến nhất. Sự đồng hành của các doanh nghiệp lớn chính là lời giải cho bài toán cơ sở vật chất – rào cản lớn nhất của giáo dục STEM tại Việt Nam bấy lâu nay.
Có phòng thí nghiệm xịn, có robot hay, nhưng thế đã đủ để học sinh quay lại với Khoa học Tự nhiên? Câu trả lời là chưa.
TS Đặng Văn Sơn nhấn mạnh, thứ chúng ta cần xây dựng không chỉ là những căn phòng mà còn là một "Hệ sinh thái giáo dục STEM" bền vững. Trong đó, nhà trường là trung tâm, giáo viên là người thắp lửa (được tập huấn, bồi dưỡng liên tục), các trường đại học/viện nghiên cứu là bệ đỡ chuyên môn, các tập đoàn công nghệ là nguồn cung cấp nguồn lực tài chính, đồng thời cũng chính là "đầu ra" hấp thụ lực lượng lao động này.
Khi và chỉ khi một hệ sinh thái giáo dục STEM được vận hành trơn tru, môn học Vật lí, Hóa học, Sinh học, Toán học, Tin học, Công nghệ mới thôi bị xem là những "nỗi ám ảnh" của kỳ thi. Chúng sẽ trở lại đúng với bản chất của mình: là lăng kính để giới trẻ Việt Nam khám phá thế giới, là bệ phóng để đất nước tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình và là câu trả lời đanh thép nhất để xóa bỏ những "cột mốc buồn" trên các biểu đồ thống kê thi cử.