Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú nhưng giá trị kinh tế chưa tương xứng. Giai đoạn 2018 - 2025, công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 4 - 5% GDP, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là tối thiểu 7%. Điểm nghẽn nằm ở những mắt xích chưa liền mạch trong chuỗi giá trị, khiến sáng tạo có, thị trường có nhưng giá trị gia tăng lại không tương xứng.
Đưa sáng tạo vào chuỗi giá trị
Bộ VH,TT&DL vừa tổ chức hội thảo lấy ý kiến góp ý dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hoá. Hội thảo diễn ra tại TPHCM và Hà Nội nhằm lắng nghe ý kiến của những người đã và đang trực tiếp tham gia, đóng góp cho sự phát triển của các lĩnh vực công nghiệp văn hóa.
Tại TPHCM, các ý kiến tập trung vào những vấn đề như tài sản trí tuệ, nhân lực, hạ tầng, tài chính, đầu tư và thị trường. Từ lĩnh vực bảo tàng, bà Huỳnh Ngọc Vân - Giám đốc Bảo tàng Áo dài cho rằng, cần nhìn nhận đầy đủ hơn khả năng phát triển các dịch vụ, sản phẩm văn hóa gắn với hoạt động bảo tàng, qua đó vừa tăng trải nghiệm công chúng, vừa tạo thêm nguồn lực.
Ở lĩnh vực du lịch, giới chuyên gia đề xuất phát huy vai trò của du lịch văn hóa trong kết nối các lĩnh vực, thúc đẩy sản phẩm gắn với di sản, kinh tế đêm, không gian công cộng và các tổ hợp văn hóa - du lịch - giải trí.
Trong lĩnh vực điện ảnh, bà Phan Thị Diệu Hoa (CJ CGV Việt Nam), đề nghị đơn giản hóa thủ tục trong hợp tác sản xuất phim, đồng thời mở rộng chức năng của rạp chiếu để phổ biến livestream, hòa nhạc, biểu diễn, thể thao, eSports và nội dung số.
Theo BTC, dù những đề xuất khác nhau nhưng cùng chỉ ra thực tế, công nghiệp văn hóa không thể phát triển trong những “ngăn” riêng biệt. Một sản phẩm có thể đồng thời liên quan đến văn hóa, công nghệ, sở hữu trí tuệ, tài chính, du lịch, thương mại và xuất khẩu.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra với Luật Phát triển công nghiệp văn hoá là phải tạo được chuỗi liên kết từ sáng tạo đến tài sản trí tuệ, từ tài sản đến vốn, sản xuất, phân phối, doanh thu và tái đầu tư.
Tại hội thảo ở Hà Nội, TS. Nguyễn Thị Quý Phương - nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Báo chí - Truyền thông, nhận định dự thảo đã thể hiện cách tiếp cận quản lý hoạt động văn hóa theo từng lĩnh vực sang tiếp cận công nghiệp văn hóa như một hệ thống kinh tế dựa trên sáng tạo, tài nguyên văn hóa, công nghệ và tài sản trí tuệ.
Theo bà Phương, việc xác lập chuỗi giá trị từ sáng tạo, phát triển, sản xuất, phân phối, thương mại hóa, trình diễn, tiêu dùng đến tái đầu tư là hướng tiếp cận phù hợp để kết nối chính sách văn hóa với thị trường, đầu tư, tài chính, công nghệ và sở hữu trí tuệ.
Chuyển từ quản lý sang kiến tạo thị trường
Đáng chú ý, dự thảo đưa vào một số công cụ thể chế mới như cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, mã định danh tài sản trí tuệ, hồ sơ tài sản trí tuệ số, cơ chế sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm tín dụng, tổ hợp sáng tạo và cụm công nghiệp sáng tạo.
Nếu được thiết kế rõ về điều kiện áp dụng và cơ chế thực thi, những công cụ này có thể giúp sản phẩm sáng tạo được nhìn nhận không chỉ như sản phẩm văn hóa, mà còn là tài sản có thể định danh, định giá, giao dịch và huy động nguồn lực.
Tuy nhiên, TS. Nguyễn Thị Quý Phương cũng lưu ý cần giảm tư duy quản lý nặng về kiểm soát tiền kiểm hành chính, tăng tính kiến tạo thị trường. Cách tiếp cận đối với các tổ hợp, cụm công nghiệp sáng tạo cần linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của kinh tế sáng tạo và mạng lưới số. Đồng thời, phải làm rõ mối quan hệ giữa bảo tồn giá trị gốc của di sản và khai thác thương mại các sản phẩm phái sinh.
GS.TS Đỗ Văn Đại - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TPHCM cho rằng, phạm vi dự thảo rộng nên cần phân định rõ khái niệm, tránh chồng chéo với Luật Sở hữu trí tuệ. Các nguyên tắc của Luật cũng cần thực sự hướng vào phát triển văn hóa, thay vì chỉ mô tả hoạt động văn hóa hoặc công nghiệp văn hóa.
Giới chuyên gia cho biết, yêu cầu tạo lập nền tảng thể chế càng cấp thiết khi công nghiệp văn hóa thế giới đang thay đổi nhanh dưới tác động của AI, công nghệ số và sự gia tăng giá trị của tài sản trí tuệ. Các quốc gia đi trước liên tục bổ sung chính sách và nguồn lực để giữ lợi thế.
Trong nước, hệ thống luật chuyên ngành về điện ảnh, di sản văn hóa, sở hữu trí tuệ, quảng cáo, xuất bản... đã tạo hành lang pháp lý cho quản lý. Tuy nhiên, yêu cầu hiện nay cần chính sách kiến tạo để kết nối nguồn lực và hình thành thị trường.
Dự án Luật đang được định hướng theo các nhóm chính sách lớn về tài sản trí tuệ văn hóa, hạ tầng, nhân lực và nhân tài, thị trường, nguồn lực tài chính và đầu tư, với cách tiếp cận theo chuỗi giá trị, lấy người sáng tạo và doanh nghiệp làm trung tâm.
Theo Thông báo số 12-TB/BCĐTW ngày 30/7/2026, Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, đồng thời giao hoàn thiện các dự án Luật để trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2, tháng 10/2026, theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Tiến độ được đặt ra khẩn trương, nhưng yêu cầu về chất lượng cũng được đặt lên hàng đầu. NSND Vương Duy Biên - Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam cho rằng, việc xây dựng một đạo luật riêng là cần thiết, song khẩn trương không có nghĩa là quá vội vàng; cần tập hợp nhiều ý kiến để Luật sát thực tế và có sức sống lâu dài.
Theo Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL Nguyễn Huy Dũng, văn hóa là lĩnh vực có nhiều lợi thế, phù hợp với con người Việt Nam. Phát triển công nghiệp văn hóa có thể xem là một sứ mệnh, dù còn nhiều thách thức, rào cản. Xây dựng Luật không phải để “cho xong một việc”, mà phải tạo tác động thực sự đến sự phát triển của công nghiệp văn hóa. Mục tiêu công nghiệp văn hóa chiếm 7% GDP vào năm 2030 vì thế cần được thúc đẩy đạt được càng sớm càng tốt.