“Núp bóng” không gian sáng tạo để “né” thuế
Thực tế tại Việt Nam cho thấy, dù đã có bước phát triển đáng kể nhưng lĩnh vực công nghiệp văn hóa vẫn thiếu nền tảng hệ thống để vận hành bền vững. Hội thảo khoa học “Thực trạng, hoàn thiện và phát triển không gian sáng tạo văn hóa - nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay” do Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam tổ chức, gợi mở hướng tiếp cận căn bản khi đặt không gian sáng tạo trong tổng thể hệ sinh thái văn hóa, gắn với chuyển đổi số và giáo dục.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương - Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, trong bối cảnh Việt Nam xác định phát triển các ngành công nghiệp văn hóa là một trong những động lực quan trọng, các không gian sáng tạo ngày càng giữ vai trò hạt nhân trong việc hình thành hệ sinh thái sáng tạo, nuôi dưỡng năng lực đổi mới trong lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật.
“Hơn 10 năm qua, sự xuất hiện của các không gian nghệ thuật độc lập, tổ hợp sáng tạo, trung tâm trải nghiệm văn hóa… đã góp phần làm thay đổi diện mạo đời sống văn hóa, đặc biệt tại các đô thị lớn. Không gian sáng tạo không chỉ là nơi trình diễn, trưng bày, mà còn là môi trường kết nối nghệ sĩ với công chúng, gắn sáng tạo với thị trường và tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa”, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương nhấn mạnh.
Nhiều tham luận tại hội thảo cũng thống nhất, mô hình không gian sáng tạo đang góp phần thay đổi cách tiếp cận văn hóa từ thiết chế truyền thống sang mô hình mở, linh hoạt, lấy cộng đồng làm trung tâm. Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương thẳng thắn nhìn nhận, sự phát triển của các không gian sáng tạo hiện vẫn đối mặt với nhiều rào cản, đặc biệt là sự thiếu hụt về khung pháp lý, thể chế và cơ chế hỗ trợ phù hợp, cũng như nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của không gian sáng tạo trong tổng thể nền kinh tế sáng tạo.
Thực tế cho thấy, phần lớn các không gian sáng tạo vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ, mang tính tự phát, thiếu nguồn lực ổn định. Áp lực về chi phí mặt bằng, tài chính và nhân lực khiến nhiều mô hình khó duy trì lâu dài. Bởi vậy, phát triển không gian sáng tạo cần có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố văn hóa và thương mại, đồng thời phải có cơ chế hỗ trợ về hạ tầng, nguồn lực và chính sách.
Tuy nhiên, theo ông Trần Hoàng, Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ VH,TT&DL), vấn đề then chốt hiện nay là cần làm rõ “thế nào là không gian sáng tạo?” và thế nào là “nhà sáng tạo?”. Nếu không làm rõ được các tiêu chí thì khó để áp dụng cơ chế đặc thù để miễn giảm thuế.
“Chẳng hạn miễn giảm thuế 2 năm đầu, trong 5 năm tiếp theo giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp và nhiều ưu đãi khác. Với tiêu chí rộng như hiện nay, một quán cà phê tự nhận họ là không gian sáng tạo, thì sẽ “né được rất nhiều thuế”, Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả cho biết.
Một vấn đề khác được nhiều tham luận đề cập là năng lực quản trị. Không ít không gian do nghệ sĩ vận hành, trong khi kỹ năng quản lý, truyền thông, phát triển thị trường còn hạn chế. Điều này dẫn đến tình trạng có nhiều điểm sáng nhưng khó bền chặt, khó phát triển.
Phục vụ nghệ thuật, hỗ trợ giáo dục
Giới chuyên gia nhận định, chuyển đổi số là cơ hội quan trọng để tái cấu trúc lĩnh vực không gian sáng tạo. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Anh đều xây dựng chiến lược văn hóa số bài bản, kết nối chặt chẽ giữa nghệ thuật, công nghệ và giáo dục. Việt Nam cần sớm xây dựng hệ sinh thái sáng tạo số, trong đó không gian sáng tạo đóng vai trò trung tâm kết nối.
Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” nhấn mạnh, triển khai chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa trên cơ sở 5 trụ cột chiến lược: Chuyển đổi số, Thúc đẩy sáng tạo, Phổ biến và lan tỏa, Nâng cao trải nghiệm thụ hưởng văn hóa, Bảo tồn và phát huy giá trị di sản - được xem là khung định hướng quan trọng.
Xây dựng cơ sở dữ liệu số giúp nhận diện đầy đủ hệ thống không gian sáng tạo, nâng cao hiệu quả quản lý và hoạch định chính sách. Môi trường số đồng thời mở rộng hoạt động từ không gian vật lý sang trực tuyến, đưa nghệ thuật đến gần công chúng hơn. Tuy nhiên, công nghệ cũng đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao trải nghiệm và tham gia hiệu quả vào bảo tồn, phát huy di sản.
Một trong những điểm giao thoa quan trọng được hội thảo đặt ra là mối quan hệ giữa không gian sáng tạo và giáo dục. Theo PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, các không gian này không chỉ phục vụ nghệ thuật mà còn hỗ trợ giáo dục thông qua các hoạt động trải nghiệm như triển lãm, trình diễn. Trong bối cảnh giáo dục chuyển sang phát triển năng lực, không gian sáng tạo có thể trở thành “lớp học mở”, góp phần nuôi dưỡng tư duy sáng tạo và hình thành nguồn nhân lực cho công nghiệp văn hóa.
Theo TS Mai Thị Thùy Hương, để phát triển văn hóa trong giai đoạn mới, cần mạnh dạn chấp nhận và đồng hành cùng các mô hình sáng tạo mới, thay vì chỉ dựa vào các thiết chế truyền thống. Không gian sáng tạo chỉ có thể phát triển khi được đặt trong một hệ sinh thái đồng bộ.
Trong hệ sinh thái này, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách; doanh nghiệp đầu tư, vận hành; cơ sở giáo dục cung cấp nhân lực; cộng đồng sáng tạo là trung tâm. Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc tích hợp không gian sáng tạo vào chiến lược văn hóa số sẽ mở rộng dư địa phát triển và nâng cao hiệu quả lan tỏa giá trị văn hóa.
“Không gian sáng tạo văn hóa - nghệ thuật tại Việt Nam đang đứng trước sự thay đổi quan trọng. Từ những mô hình tự phát, lĩnh vực này cần được định hình trong một tầm nhìn dài hạn, nơi chính sách, công nghệ, giáo dục và cộng đồng cùng hội tụ. Khi đó, sáng tạo không chỉ là hoạt động nghệ thuật, mà trở thành động lực nội sinh cho phát triển văn hóa và con người Việt Nam trong kỷ nguyên số”, PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương.