Trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, việc khai thác nguồn lực lễ hội không chỉ nhằm bảo tồn giá trị truyền thống, mà còn mở ra cơ hội cho du lịch, tiêu dùng văn hóa và các ngành dịch vụ sáng tạo.
Nguồn lực văn hóa đặc biệt của Thủ đô
Hà Nội hiện có hơn 1.600 lễ hội truyền thống - kho di sản quý báu và cũng là nguồn lực văn hóa đặc biệt. Khi công nghiệp văn hóa được xác định là động lực phát triển mới, Thủ đô đứng trước yêu cầu chuyển hóa lễ hội từ không gian sinh hoạt cộng đồng thành sản phẩm công nghiệp văn hóa, vừa bảo tồn bản sắc văn hiến, vừa tạo giá trị kinh tế và lan tỏa giá trị tích cực.
Theo thống kê của Bộ VH-TT&DL, Hà Nội hiện có hơn 1.600 lễ hội, là địa phương có số lượng lễ hội nhiều nhất nước. Trong đó lễ hội dân gian chiếm trên 88%, bên cạnh các loại hình lễ hội tôn giáo, lễ hội lịch sử, lễ hội du nhập từ nước ngoài và một số hình thức khác. Hệ thống lễ hội phân bố rộng khắp, diễn ra quanh năm, tập trung chủ yếu vào mùa xuân, phản ánh lịch sử hình thành, tín ngưỡng và đời sống văn hóa phong phú của cộng đồng cư dân Thăng Long.
Trong số đó, có những lễ hội mang tầm quốc gia và quốc tế, như Lễ hội Gióng tại đền Phù Đổng và đền Sóc - di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, với hệ thống nghi lễ, diễn xướng và không gian văn hóa độc đáo. Bên cạnh đó là các lễ hội gắn với lịch sử như Lễ hội đền Hai Bà Trưng, lễ hội tưởng niệm các danh nhân, anh hùng dân tộc, phản ánh chiều sâu lịch sử vùng đất Thủ đô.
Không chỉ có lễ hội lịch sử - tín ngưỡng, Hà Nội còn sở hữu hệ thống lễ hội làng nghề đặc sắc như Lễ hội làng gốm Bát Tràng, làng lụa Vạn Phúc, làng cốm Mễ Trì… hội tụ các giá trị nghề truyền thống, ẩm thực, phong tục và tri thức dân gian. Đây chính là những không gian giàu tiềm năng để phát triển các sản phẩm văn hóa - du lịch gắn với trải nghiệm.
Nếu như trước đây, lễ hội ở Hà Nội chủ yếu phục vụ nhu cầu tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng, thì ngày nay cách tiếp cận đang dần thay đổi. Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần, động lực phát triển bền vững và nhấn mạnh vai trò của hội nhập quốc tế trong lan tỏa, làm giàu bản sắc văn hóa Việt Nam.
Với vai trò Thủ đô, Hà Nội được xác định là trung tâm lớn về văn hóa, sáng tạo và công nghiệp văn hóa. Trên cơ sở đó, Nghị quyết 09 của Thành ủy Hà Nội đã cụ thể hóa mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa, coi lễ hội truyền thống là một nguồn lực quan trọng.
Cùng với đó, Hà Nội sở hữu mạng lưới hợp tác văn hóa quốc tế rộng khắp, là thành viên Mạng lưới các Thành phố sáng tạo của UNESCO, tạo khuôn khổ để phát triển văn hóa theo chuẩn mực quốc tế, gắn sáng tạo với phát triển bền vững.
Theo cách tiếp cận này, bảo tồn không chỉ để giữ mà còn để phát triển. Trong chiến lược công nghiệp văn hóa, lễ hội được nhìn nhận như một tổ hợp giá trị, từ nghi lễ, nghệ thuật trình diễn đến ẩm thực, làng nghề và không gian văn hóa, có khả năng kết nối thành chuỗi sản phẩm tạo giá trị kinh tế và sức lan tỏa xã hội.
Chọn lọc đúng, làm bền bỉ
Theo TS Đinh Đức Tiến - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), lễ hội không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng mà còn là không gian văn hóa cộng đồng, nơi con người cùng chia sẻ giá trị, ký ức và trách nhiệm xã hội. Hệ thống nghi lễ, phong tục, trò chơi dân gian và nghệ thuật trình diễn trong lễ hội chính là lớp trầm tích văn hóa được gìn giữ và tái tạo qua nhiều thế hệ.
Tuy nhiên, không phải lễ hội nào cũng phù hợp để khai thác theo hướng công nghiệp văn hóa. Theo các chuyên gia, Hà Nội nên ưu tiên những lễ hội có quy mô, giá trị biểu tượng và khả năng mở rộng trải nghiệm. Lễ hội Gióng là ví dụ, khi ngoài phần nghi lễ, còn có hệ thống diễn xướng, trò diễn và âm nhạc truyền thống có thể phát triển thành sản phẩm trải nghiệm, giáo dục di sản cho du khách.
Với Lễ hội làng gốm Bát Tràng, bên cạnh nghi lễ truyền thống, du khách có thể trải nghiệm làm gốm, tham quan không gian làng nghề và mua sắm sản phẩm thủ công, tạo mô hình kết hợp lễ hội với du lịch sáng tạo và tiêu dùng văn hóa. Tương tự, các lễ hội của làng lụa Vạn Phúc hay làng cốm Mễ Trì có lợi thế kết nối với ẩm thực, thời trang và sản phẩm sáng tạo, hình thành chuỗi giá trị kinh tế dựa trên di sản.
Bên cạnh các lễ hội truyền thống, nhiều lễ hội đường phố và festival quốc tế về bảo tồn, phát triển làng nghề đang trở thành điểm hẹn văn hóa tại Hà Nội. Đáng chú ý, Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội 2025 góp phần tạo không gian giao lưu, nơi các giá trị truyền thống và đương đại gặp gỡ và lan tỏa.
Để lễ hội trở thành sản phẩm công nghiệp văn hóa, công tác quản lý đóng vai trò then chốt. Hà Nội những năm gần đây đã từng bước chuẩn hóa việc tổ chức lễ hội, tăng cường vai trò của chính quyền địa phương và sự tham gia của cộng đồng. Khi được khai thác hợp lý, lễ hội không chỉ góp phần bảo tồn di sản mà còn tạo hiệu quả kinh tế - xã hội, làm phong phú sản phẩm du lịch, gia tăng chi tiêu của du khách và mở ra không gian phát triển cho các lĩnh vực công nghiệp văn hóa khác.
Tuy nhiên, giới chuyên gia cũng cảnh báo nguy cơ thương mại hóa quá mức, làm phai nhạt bản sắc lễ hội. Vì vậy, việc khai thác lễ hội phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa cần thực hiện “chọn đúng, làm bền”, với tầm nhìn dài hạn và sự tham gia gắn kết trọn vẹn của cộng đồng.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương - Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, với hơn 1.600 lễ hội, Hà Nội đang sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa đặc biệt. Việc chuyển hóa lễ hội thành sản phẩm công nghiệp văn hóa không chỉ nhằm tạo giá trị kinh tế, mà còn đặt ra yêu cầu về năng lực quản lý, sáng tạo và bảo tồn di sản. Thực hiện hiệu quả sẽ giúp lễ hội trở thành động lực phát triển, góp phần củng cố vai trò của Hà Nội như một trung tâm văn hóa sáng tạo.