Những kỷ niệm đẹp về một cô giáo người Nga

Những kỷ niệm đẹp về một cô giáo người Nga

(GD&TĐ) - Trong phòng truyền thống của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (KHXHNV), Đại học Quốc gia Hà Nội, trong số chân dung những nhà giáo được vinh danh của trường có tấm ảnh một nữ giáo sư người nước ngoài. Người ngoài trường, các sinh viên lớp mới, khi thăm phòng này, thường lấy làm lạ, nhưng những lớp cựu sinh viên như chúng tôi thì không lạ. Đó là giáo sư Ngôn ngữ học người Nga Nonna Vladimirova Stankevich của ngành Ngôn ngữ học, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Giáo sư Nonna Vladimirovna Stankevich
Giáo sư Nonna Vladimirovna Stankevich

Tên, họ đầy đủ của giáo sư là như vậy, nhưng chúng tôi chẳng cần thêm những phụ ngữ trang trọng khác, thường chỉ gọi là “Cô Nonna” (Có hai chữ n ở giữa). Tôi nhắc tới hai chữ n là vì một chuyện vui vui. Cách đây ba năm, Thầy Nguyễn Tài Cẩn gửi thư cho tôi và qua tôi, đề nghị Trường Đại học KHXHNV chứng nhận số năm công tác ở Trường để Thầy Cô gửi cho cơ quan quản lý người hưu trí. Hết thư, Thầy viêt thêm: “T/B: N. nhớ viết tên cô: Nonna - hai chữ e nờ ở giữa. Nhiều lần anh em mình không để ý, viết một chữ n thành Nona, đi làm giấy tờ, nhất là ra công an, hộ khẩu... phiền lắm”.

Cô là một trong “Tứ Quý” của khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội ngày trước. Cái biệt danh Tứ Quý này là do đám sinh viên chúng tôi hồi ấy nghĩ ra, rồi truyền tụng, để gọi bốn cô giáo mà chúng tôi rất yêu mến, kính trọng: Cô Đặng Thị Hạnh, Cô Lê Hồng Sâm, Cô Hoàng Thị Châu và Cô Nonna. Mỗi người một vẻ, nhưng cái sự sâu sắc, và sự sang trọng khả kính trong học thuật thì chung mẫu số. Bây giờ, Tứ Quý của chúng tôi nghỉ hưu đã lâu. Ngay như chúng tôi, những chú học trò nhà quê, tỉnh lẻ, mười chín đôi mươi của các cô ngày ấy, bây giờ cũng đã “tà tà bóng ngả”. Cô Hạnh, Cô Sâm, Cô Châu vẫn ở Hà Nội, còn Cô Nonna về nghỉ hưu ở tận Cộng hòa liên bang Nga, quê hương Cô.

Khi chúng tôi là sinh viên khoa Ngữ văn, đất nước đang còn chiến tranh, chia cắt. Cuộc sống thật nghèo. Cái gì cũng thiếu. Nhưng đáng lạ nhất là - tôi vẫn tự hỏi - sao tinh thần, không khí học và hỏi trong nhà trường ngày ấy lại không thiếu. Ngày ấy, cái tên Việt Nam được biết đến trên khắp mọi nơi của thế giới qua mọi phương tiện truyền thông; nhưng ở Việt Nam, gặp một người nước ngoài, đối với những người bình thường, là chuyện hiếm. Vậy mà chúng tôi có hẳn một cô giáo người Nga chính hiệu, lại ăn mặc kiểu Việt Nam, đội nón lá bài thơ, đi dép nhựa, đến lớp ân cần giảng dạy cho chúng  tôi, hướng dẫn làm luận văn tốt nghiệp... tất cả đều bằng tiếng Việt, như mọi thầy giáo, cô giáo người Việt khác. Lần đầu tiên chúng tôi gặp và nghe cô giảng bài, cảm giác thật lạ. Cô diễn giảng nhẹ nhàng, người nghe tinh ý dễ nhận ra có pha đôi chút “chất giọng Nghệ”; nhưng rất khúc chiết và chẳng có câu nào thừa, lặp. Tên tuổi của những nhà khoa học có tiếng trên thế giới thuộc lĩnh vực mà Cô giảng dạy như Skalichka, Kasnelson, Iakhontov, Uspenskji, Greenberg, Gorgoniev... cùng tư tưởng, hệ phân loại, phương pháp... của họ đến với chúng tôi qua bài giảng của Cô về Loại hình các ngôn ngữ từ những ngày đó. Về sau, khi học xong, được ở lại để đào tạo thành giảng viên, được cùng làm việc trong tổ bộ môn với các Thầy các Cô khác, tôi mới dần dần có điều kiện để hiểu thêm về Cô.

Quê Cô là thành phố Saint Petersburg (trước, gọi là Leningrad), nơi có dòng sông Neva biếc xanh phản chiếu những chiều hoàng hôn tím và in bóng những lâu đài, cung điện, vàng son, tráng lệ, có những đêm trắng Tháng Sáu diệu kỳ và lễ hội “Những cánh buồm đỏ thắm”, có Đại học Tổng hợp Leningrad danh tiếng, nay đã đổi tên trở lại là Đại học St. Petersburg. Tại đại học này, năm 1964, Cô đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về "Phạm trù tính từ trong tiếng Việt hiện đại" dưới sự hướng dẫn trực tiếp cuả giáo sư S.E. Jakhontov, một cái tên rất quen thuộc đối với giới ngôn ngữ học quốc tế.

Thực ra, lúc đầu, Cô học về ngữ văn Trung Quốc cùng với ngoại ngữ thứ hai là tiếng Tibetan (Tây Tạng ). Chẳng may, giáo viên tiếng Tibetan bị ốm, chương trình không tiếp tục được, và tiếng Việt được thay vào đó. Cô tiếp xúc với tài liệu tiếng Việt đầu tiên là cuốn Sách học tiếng Việt của R.I. Minin (tức giáo sư Nguyễn Khánh Toàn); rồi sau đó, cùng với I.X. Bưstrov tiếp tục tìm hiểu về ngữ pháp tiếng Việt. Cuối khóa, Cô thi tốt nghiệp bằng các môn tiếng Hán và văn học Trung Quốc, nhưng làm luận văn tốt nghiệp lại với đề tài về Việt học. Ở Đại học Tổng hợp Leningrad khi đó, ban Việt học là bộ phận của bộ môn ngữ văn Trung Quốc.

Lẽ ra, cùng với những người đặt nền móng cho ngành Việt học ở Đại học St. Petersburg hồi ấy như N.D. Andreev, Nguyễn Tài Cẩn, I.X. Bưstrov, M.V. Gordina, V.X. Panfilov, I.P. Zimonina, Đ. Letjagin, Cô sẽ tiếp tục nghiên cứu và giảng dạy về Việt học tại đó; nhưng mối lương duyên thiên định lại đưa Cô về làm dâu họ Nguyễn Tài làng Thượng Thọ, huyện Thanh Chương, Nghệ An; và người bạn đời của Cô chính là nhà ngôn ngữ học tài danh, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn. Về Việt Nam quê chồng, Cô được tuyển dụng làm giảng viên (hồi trước, gọi là cán bộ giảng dạy) tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, khoa Ngữ văn, theo quyết định số 724/QĐ ngày 30 tháng 10 năm 1961 của Bộ Giáo dục Việt Nam. Sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy của Cô gắn bó trọn vẹn với ngành Ngôn ngữ học của Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Khoa Ngôn ngữ học Trường Đại học KHXHNV, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) cho tận đến lúc nghỉ hưu năm 1992, bắt đầu từ đấy. Thế là khởi nghiệp khoa học ở quê hương Leningrad, nhưng rồi suốt thời gian Cô làm nghiên cứu và giảng dạy, đào tạo lại hoàn toàn ở Việt Nam, mà hầu hết lại trong thời gian chồng chất khó khăn gian khổ của đất nước đang lúc có chiến tranh.

Ngành Ngôn ngữ học, Việt ngữ học ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc đó mới đang bắt đầu được gây dựng. Cùng với các đồng nghiệp của mình, Cô cũng dốc tận lực cho công việc chuyên môn để phát triển bộ môn, phát triển ngành. Cô được phân công biên soạn tài liệu và giảng dạy các môn học về lý thuyết và phương pháp dịch, về loại hình các ngôn ngữ, cả dạy thực hành tiếng Nga, rồi tiếp tục nghiên cứu về ngữ pháp, tiến tới nghiên cứu về chữ Nôm cùng với Thầy Nguyễn Tài Cẩn, nghiên cứu về Hán văn Việt Nam, đặc biệt là về giao thoa ngôn ngữ giữa Văn ngôn với Việt ngữ, nghiên cứu ngôn ngữ văn xuôi tiếng Việt cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX... Lĩnh vực nào Cô cũng thu được những kết quả đáng trọng. Hai cuốn sách, một của riêng Cô (Loại hình các ngôn ngữ), một viết chung với GS. Nguyễn Tài Cẩn và GS. Bưstrov (Ngữ pháp tiếng Việt) cùng với trên một trăm bài nghiên cứu của Cô trên các tạp chí khoa học, sách nghiên cứu trong và ngoài nước đã được công bố. Riêng Loại hình các ngôn ngữ là cuốn sách duy nhất về lĩnh vực này, cho đến nay, tại Việt Nam, được biên khảo và được dùng làm tài liệu giáo khoa chính thức cho sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học. Thiết nghĩ, nên đề xuất để công trình này được nhận một giải thưởng xứng đáng. Cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của ba tác giả trình bày một hệ thống miêu tả mà vào thời điểm công bố, được coi là khá mới mẻ và thực tiễn.

Đóng góp của Cô cho ngành Việt học không phải chỉ có vậy. Trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, giao lưu quốc tế khó khăn, Cô đóng vai trò như một cây cầu nối, vừa giới thiệu kịp thời những thành tựu và xu hướng nghiên cứu mới trong ngôn ngữ học thế giới và ngôn ngữ học Xô Viết vào Việt Nam, lại vừa giới thiệu văn hoá, văn học Việt Nam, Việt ngữ học ra nước ngoài qua nhiều tác phẩm dịch và các bài khảo cứu. Năm 2005, Tổng biên tập tạp chí Ngôn ngữ, GS. Nguyễn Đức Tồn yêu cầu tôi viết cho tạp chí một bài ngắn để giới thiệu và mừng tuổi 70 của Giáo sư N.V. Stankevich. Tôi thấy khó, nhưng đã gắng viết; và lúc viết xong, nghĩ ngay đến việc phải hỏi thêm Thầy Nguyễn Tài Cẩn để kiểm tra lại. Rất may, dịp đó Thầy đang ở Hà Nội, khu tập thể Thanh Xuân Bắc. Tôi nhớ có hỏi Thầy một việc đại ý là: Cô có giới thiệu hoặc vừa dịch vừa giới thiệu nhiều tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại sang tiếng Nga, có đúng không ạ ? Thầy dừng giây lát rồi bảo: “Có đấy. Cô có dịch, giới thiệu tác phẩm của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu”... Rồi từ từ đứng dậy lục trong giá sách. Tôi vào giúp một tay. Một chồng tác phẩm, khá nhiều, của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu... lại của Huy Cận, Nguyễn Tuân, Hoàng Trung Thông... với những lời đề tặng, cảm ơn rất trân trọng. Tất cả đều được in bằng thứ giấy rơm màu nước dưa hoặc vàng xỉn, xám ngoách, sản phẩm ghi dấu một thời khó khăn, thiếu thốn.

Quãng trước, sau năm 1970, chính Cô là người đầu tiên giới thiệu nội dung và giới thiệu về mặt ngôn ngữ, văn tự của các văn bản Nôm cổ Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, Thiền tông khoá hư ngữ lục... sang với giới ngữ học Xô Viết. Những tư liệu ngôn ngữ, văn tự đó đã được giới nghiên cứu Việt học quan tâm rất nhiều. Đặc biệt, Cô là người đầu tiên phát hiện văn bản Công giáo Biện phân tà chánh viết bằng tiếng Việt, cực kỳ quý hiếm, tại Leningrad và viết bài giới thiệu văn bản này, gây tiếng vang lớn trong giới nghiên cứu Việt học, nhất là ở Liên Xô hồi đó.

Không chỉ có các công việc chuyên về ngôn ngữ học, Việt học như thế. Trước nay, ít người biết rằng nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước, của rất nhiều đoàn cán bộ cấp cao khi đi công tác nước ngoài đã được dịch sang tiếng Nga qua tay Cô. Nhân một lần nói chuyện về việc này, tôi hỏi Thầy Cẩn, nửa đùa nừa thật: “Hình như hồi ấy chắc cũng chả có tiền nong thù lao gì đâu Thầy nhỉ”. Thầy chỉ cười bảo: “Cấp trên giao thì phải gắng thực hiện thôi. Cũng là một nhiệm vụ chứ. Nhưng mà ở mình có nhiều việc nó buồn cười lắm. Nhất là tài liệu làm việc của những đoàn thuộc bộ nọ ngành kia, hội này, hội khác... Cứ như bỏ bom. Mai hoặc cách vài ngày nữa lên đường thì hôm nay mang đến “nhờ chị giúp cho”. Thế là cô lại phải cố. Thức đêm thức hôm. Rành khổ”.

Cô cũng là người dịch sang tiếng Nga rất nhiều bài viết của nhiều vị lãnh đạo cấp cao. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thường yêu cầu bài của ông cho in trên báo Pravda phải do Cô dịch. Chính Cô là thành viên trong tổ dịch di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh sang tiếng Nga đầu tiên.

Cứ như vậy, Cô lặng lẽ làm việc, lặng lẽ cống hiến qua những việc “hữu danh” và cả rất nhiều việc “vô danh”. Nói về cái cách làm việc của Cô và của Thầy Nguyễn Tài Cẩn, người cùng làm thành “cặp bài trùng” với Cô, thì ai cũng phải thấy rằng sao mà nó bền bỉ, kiên nhẫn đến lạ lùng. Hồi chưa có máy photocopy, muốn có tài liệu cho công việc, mà cuốn Từ điển Việt - Bồ đào nha - La tinh chưa được dịch và in, Cô và một phần là Thầy Cẩn nữa, bỏ công ra chép lại toàn bộ ở Leningrad. Rồi quãng trước, sau năm 1975 độ một vài năm, ở một viện nghiên cứu có biên soạn một cuốn từ điển chữ Nôm, nhưng chưa có điều kiện để in ra được, Cô và Thầy lại xin được chép toàn bộ. Về sau, nói lại chuyện này với chúng tôi, Cô và Thầy đều bảo: “Những tài liệu quý và hiếm mà chưa in ra để sử dụng được thì mình phải cố bỏ công ra mà chép thôi. Để có cái mà làm việc. Loại ấy thường khó in lắm. Đợi thì biết đến bao giờ. Mình chịu khó chép sẽ có tài liệu để làm việc sớm được mấy năm”... Thực tế đã cho thấy tính toán của Thầy và Cô hoàn toàn chính xác. Có lần Thầy Cẩn vừa cười vừa bảo: “N. thấy đúng chưa nhá. Tôi có tài liệu làm việc hai, ba năm nay rồi mà sách đã in ra được đâu. Khó chứ.”

Đi cùng Thầy Cẩn tới làm việc ở Đại học Paris 7 một thời gian, Thầy và Cô đã nhờ cậy ông Ph. Langlet, ông Y. Hervouet giới thiệu với ông L.M.J. Verinaud, ông L.M.CI. Lange để hai ông này giới thiệu cho được vào kho lưu trữ của Trung tâm truyền giáo nước ngoài - Séminaire des Missions étrangères (xây dựng từ năm 1663 ở Paris, tại địa chỉ 128 Rue du Bac hiện nay) khai thác tài liệu lưu trữ cổ. Kết quả là Cô đã tầm soát được và khảo tả khá tỉ mỉ, công bố giới thiệu cho giới nghiên cứu biết hàng loạt tài liệu viết bằng chữ quốc ngữ thế kỷ XVII, XVIII: bao nhiêu tập, ký hiệu từng tập, mỗi tập gồm những tài liệu gì, hiện trạng văn bản, nội dung nói về việc gì, niên đại cụ thể... (Bài đã đăng trên tạp chí Khoa học của Đại học Tổng hợp và đăng lại trong cuốn sách của Thầy Nguyễn Tài Cẩn: Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá, năm 2001). 

Năm 1984, Cô được công nhận và bổ nhiệm chức danh giáo sư ngành Ngôn ngữ học (Quyết định số 81/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ký ngày 28 tháng 5).

Năm 1992, Cô nghỉ hưu. Nhưng việc chuyên môn vẫn không nghỉ. Vẫn viết bài dự hội thảo quốc tế, viết cho tạp chí khoa học... Lại nghiên cứu Truyền thống ngôn ngữ học Việt Nam và sự tiếp xúc của nó với truyền thống ngôn ngữ học Trung hoa (in trong cuốn sách ba thứ tiếng Anh, Pháp, Đức History of language sciences, nhà xuất bản Walter de Gruyter tại Berlin và Newyork, năm 2000), viết bài cho tạp chí Ngôn ngữ của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam về hư từ, ngữ pháp trong văn bản Nôm cổ Truyền kỳ mạn lục giải âm, giới thiệu thành tựu và phương pháp mới của ngành từ điển học Nga... Năm 2010, tôi có dịp đến thăm Thầy Cẩn và Cô tại Moskva, Cô vẫn hỏi thăm các anh em bên nhà, ai nghiên cứu, công bố được những gì. Và còn dặn: “Có điều kiện thì gửi cho chúng tôi đọc nhá”.

Trở lại chuyện xưa, được biết, ngày mới ở Liên Xô về, Thầy Cô được cấp trên phân phối cho ở một phần trong căn biệt thự khá đẹp trên một phố trung tâm Hà Nội. Rồi trong Trường Đại học Tổng hợp hồi ấy bỗng xảy ra một cuộc gần như “cách mạng văn hoá” ở nước người. Tầm cỡ “la bô” thôi, nhưng cũng đã đủ tác hại. Một số nhà khoa học bên khối khoa học tự nhiên, rồi khối Ngữ văn lọt vào tầm ngắm trước. Thầy Nguyễn Tài Cẩn trong số đó. Phần biệt thự ấy cũng thôi, không ở nữa. Thầy Cô xoay trở mua được một căn nhà gần chợ trời. Hồi ấy, từ trung tâm thành phố đến chợ trời vẫn còn được coi là xa vắng. Xế phía đối diện bên kia là một trại tạm giam, tạm giữ của công an. Ấy là chuyện ngày trước, tôi được nghe các bậc trưởng thượng kể lại, chứ khi chúng tôi quen biết Thầy Cô thì quang cảnh đã đổi khác lắm rồi, trại tạm giam, tạm giữ ấy không còn nữa.

Sau hai cánh cổng sắt thấp ngang tầm người đứng, hơi xập xệ, là lối ngõ vào nhà Thầy Cô, cũng đồng thời là cái sân nhỏ, hẹp, bám theo chiều dài tường nhà, phía trong có cây ngọc lan khá lớn đứng cạnh khóm tre nhỏ trồng làm cảnh nhưng xùm xòe, ít cắt tỉa. Dưới gốc cây ngọc lan có con cóc cụ, không biết nằm lì ở đấy từ bao giờ, thô lố đôi con mắt nhìn mọi người, chẳng biết sợ ai. Hồi lâu lắm rồi, đã có lần ngồi uống nước hầu chuyện Thầy Cẩn, tôi nghịch ngợm đổ nước chè lên đầu thì nó cũng chỉ đưa tay gạt gạt nước đi rồi lại trố mắt nằm im, chả bảo gì. Cái bàn gỗ (hình như tự đóng lấy, vì không có vẻ gì là thợ chuyên nghiệp làm ra cả), Thầy Cẩn thường kê dưới gốc ngọc lan để làm việc và tiếp khách vào mùa hè. Quà của Cô cho nhiều bạn bè, đồng nghiệp, học trò, là những bông ngọc lan Cô thu hái, đặt trong cái phong bì nho nhỏ do Cô tự cắt dán lấy bằng giấy báo. Thanh cảnh và thơm thảo...

Nhiều học trò của Thầy và Cô đã tới thụ giáo tại chính ngôi nhà đó. Có hồi (khoảng 1985-1990), Thầy Cẩn tổ chức tại nhà một loạt cuộc nói chuyện chuyên về từng vấn đề một của ngôn ngữ học và Việt ngữ học (“nói chữ” là các semina) do một số thầy, trò, anh em, tự nguyện tham gia, trình bày, thảo luận. Và Thầy Cô đắc ý, tự trào gọi là hợp tác xã khoa học. Tôi cứ vẩn vơ nghĩ: cái gọi là các nhóm nghiên cứu mà chúng ta đang bàn hôm nay, có lẽ cũng đã từng được hình thành và hình thành theo kiểu như vậy?

Thời bao cấp. Rồi chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ. Sơ tán. Bom đạn. Nguy hiểm và bất trắc. Gian khổ, vất vả, thiếu thốn đủ đường. Cấp trên lo cho Cô, khuyên Cô tạm tản cư về Liên Xô. Cô cảm ơn, rồi cả nhà cùng sơ tán với trường lên Đại từ, Thái Nguyên. Đến khi phải sơ tán lần thứ hai tránh bom giặc cũng vậy, lại về với nông thôn, chẳng ngại ngần gì.

Cứ nghĩ: giả sử (chỉ giả sử thôi), ngày ấy, Cô tản cư về quê Cô để tránh bom, giữa lúc Thầy Nguyễn Tài Cẩn đang gặp khó khăn về hậu cảnh và không khí làm việc, thì thế nào nhỉ ?... Ngày Thầy được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học, được phong tặng danh hiệu cao quý Nhà giáo Nhân dân... mọi người quen biết, thân thiết đều vui và mừng Thầy. Nhưng mà hình như vẫn nghe vẳng qua đâu đó ...“xưa nay chỉ thấy người nay cười”... -  câu trong lời dịch một bài cổ thi từ mãi bên Bắc Quốc được lấy làm lời dẫn cho bộ phim cổ trang nhiều tập, lâu nay thỉnh thoảng lại thấy phát trên ti vi buổi tối hàng ngày. 

Hồi tôi đi làm việc ở một đại học xa nhà, có hôm tới thăm Thầy Cô, ngồi nói chuyện về chăm nuôi trẻ nhỏ (con trai đầu lòng của tôi lúc đó mới ba tuổi), Cô kể kinh nghiệm: “Anh biết không, hồi sơ tán, Việt và Nam (hai con trai Cô) còn nhỏ. Đêm, tất nhiên, chỉ có đèn dầu thôi. Cô ngồi làm việc, đặt ngủ ở bên cạnh. Khi trẻ con khóc, đầu tiên là anh phải kiểm tra xem có thể bị kiến hay côn trùng gì đốt không, nếu không thì có thể đái dầm không, nếu không nữa thì có thể là đói, hoặc mùa đông là rét”... Tôi nghe, không chỉ thấy và học kinh nghiệm chăm sóc con trẻ, mà như thấy Cô và các thầy, trò khác với sách vở và những đốm đèn dầu của đêm đông trong vùng sơ tán..., thấy lại quê tôi, vùng nông thôn gần biển, nơi cửa ngõ ra vào của máy bay Mỹ thời ấy. Tiếng kẻng báo động. Tiếng súng phòng không. Tiếng bom nổ phía thành phố hay ở nơi nào đó, khi gần khi xa. Có đêm, nghe cả tiếng pháo kích từ tàu chiến Mỹ ngoài biển dội vào. Chúng tôi, bọn trẻ đang tuổi ăn tuổi lớn mà cái đói luôn ỳ xèo trong bụng. Tối đến, hai, ba anh chị em, mỗi đứa một góc trên cái phản gỗ ọp ẹp, chụm đầu lụi hụi học bài, ngáp ngắn ngáp dài quanh một ngọn đèn dầu ở giữa, có cái loa con con làm bằng bìa vở cũ che không cho ánh sáng hắt ra ngoài cửa, theo quy định phòng không, sợ máy bay Mỹ phát hiện... 

Nói theo cách bây giờ, thế là Cô đã hoà nhập với tất cả chúng ta. Về Việt Nam hồi ấy, một đất nước xa lạ và còn đang rất nghèo khó, vất vả, vì mới ra khỏi cuộc kháng chiến chống quân viễn chinh thực dân chưa được bao lâu, Cô đã nhanh chóng vượt qua những bỡ ngỡ ban đầu và bình thản, tự tin nhập cuộc. Đến đận không quân Mỹ bắn phá, cũng sơ tán lên rừng tránh bom tránh đạn, vừa công việc vừa nuôi con nhỏ, khi về Hà Nội cũng vẫn tem phiếu mọi thứ, cũng tiêu chuẩn mỗi tháng được mua 13 cân lương thực độn mỳ độn ngô... như mọi người khác, mà vẫn chuyên tâm nghiên cứu, chuyên tâm giảng dạy... Tôi không thể biết Cô và Thầy có “bần” và “an bần” không, nhưng “lạc đạo” thì rõ. Không “lạc đạo” thì trong hoàn cảnh ấy, đào đâu ra được những kết quả nghiên cứu như thế.

Cuộc sống thiếu thốn là vậy, nhưng trong giảng dạy và nghiên cứu bao giờ Cô cũng đặt ra yêu cầu cao nhất trong điều kiện có thể. Ngày tôi mới ở lại trường, chính Cô và Thầy Nguyễn Tài Cẩn trong một lần ngồi nói chuyện đã khai tâm cho tôi thế nào là một bài nghiên cứu, tiêu chí đánh giá một bài nghiên cứu là ở đâu, tiêu chí cần có của bài nghiên cứu là những gì, nó phân biệt với một bài báo là ở chỗ nào... một sinh viên chuyên ngành đào tạo ra thì phải đạt yêu cầu gì, biết làm gì... Hơn mười năm sau, khi ở Đại học Cornell bên Hoa Kỳ, một hôm tôi giới thiệu hai người bạn của tôi với Cô, trong đó có P. người Thái Lan, xinh, vui tươi và năng động, nói tiếng Việt rất thạo bằng giọng đặc Hà Nội, yêu thích và quen thuộc Việt Nam, lúc ấy đang làm nghiên cứu sinh, đã làm việc cho một số chức quốc tế. Gặp gỡ đôi ba lần, Cô rất quý mến P. và có lần bảo tôi: “Chúng ta phải gắng đào tạo được những sinh viên như thế.”

 Về quê hương - nước Nga để nghỉ hưu, Cô cũng như các Thầy, Cô khác để lại cho Trường Đại học Tổng hợp ngày ấy, Trường Đại học KHXHNV, Đại học Quốc gia Hà Nội bây giờ, toàn bộ công sức và thành quả nghiên cứu, giảng dạy của mình. Về quê hương nghỉ hưu, trong mấy thứ “đồ gia bảo” mà Cô mang theo, có chiếc mũ sắt được cấp hồi chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ, có tấm Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước (Huân chương thì chắc chắn rồi, nhưng hạng nào thì tôi không nhớ. Mà ngại hỏi. Vì bây giờ có gửi thư hỏi thì biết Cô cũng ngại nói về những chuyện khen lao, nên ... thôi).

Lại cứ lẩn thẩn nghĩ: hoá ra toàn bộ quãng thời gian, tâm sức làm khoa học và giảng dạy, đào tạo sung sức nhất của Cô, cho tận đến lúc được nghỉ hưu, luôn trong trạng thái “ở đây thì nhớ đằng kia, ở đằng kia lại nhớ về nơi đây”. Mà lẽ thường, “ở hai đầu nỗi nhớ, yêu và thương sâu hơn, ở hai đầu nỗi nhớ, nghĩa tình đằm thắm hơn”... như lời một ca khúc, gần đây tôi vẫn thấy người ta hát. Khi Cô ở Hà Nội thì nơi phương trời vời vợi xa kia là thành phố quê hương sinh ra Cô. Khi Cô ở St. Petersburg hay Moskva bây giờ, thì Hà nội với những con đường, ngõ nhỏ ướt mưa, những ngày hè gay gắt nắng và một ít ngày thu se dịu heo may, rồi tháng Chạp cuối năm, những đào những quất, bởi... Tết rồi; Hà Nội với sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy về ngôn ngữ học và Việt học của Cô có buổi chiều mùa hè vàng nắng mật ong, giảng dạy trên lớp mà tiếng ve trên cây cổ thụ sát lớp học kêu át cả tiếng các Thầy, Cô; chúng tôi múc nước té ngược lên cây đuổi ve không xuể... có lẽ đã trở nên không thể xa mờ. Chả thế mà những lần Thầy Cẩn về Hà Nội đều mang máy ảnh chụp hàng loạt: lối ngõ vào nhà Thầy Cô trước đây, cái quán nước nhỏ trên đường gần về đến nhà, cái cầu thang trong nhà tập thể, cái cột điện đầu lối rẽ vào ngõ, cửa sổ nhà ai xa xa, những đường dây điện nhằng nhịt trên trời... Để giải toả cho cái nhìn chắc là đầy vẻ thắc mắc của tôi về việc chụp ảnh như thế, Thầy giải thích: “Cô bảo chụp mang sang cho cô đỡ nhớ”. Và tôi im lặng. 

Hồi tháng 8 năm 2010, nhân có dịp đến thăm Thầy Cô ở Moskva, tôi hỏi han Thầy Cô nhiều chuyện, rồi nói: “Cô với Thầy gắng giữ gìn sức khoẻ rồi khi nào có điều kiện thì Cô lại sang Hà Nội Cô ạ. Hà Nội bây giờ đổi khác nhiều”... Cô hướng ra ngoài trời qua khung cửa sổ trong giây lát, ánh mắt chừng như xa xăm, rồi quay lại, bảo: “Cô cũng muốn lắm, nhưng bác sĩ không cho”. Tôi biết, Cô có vấn đề về sức khoẻ khi đi máy bay. Hôm ấy, tôi được anh Hoàng (gọi đùa là Hoàng Nem - tôi không hiểu lý do - một người bạn mới quen, rất cởi mở, chí tình, cùng với vợ anh là cô Hạnh, hết lòng lo liệu cho chuyến công tác của tôi và chị Thu Hà, anh Phạm Ngọc Thanh...) đưa đến nhà thăm Thầy Cô. Tình cờ hỏi ra, Cô được biết, nhà của gia đình cô Hạnh ở quê Nghệ An gần sát nhà Thầy Cẩn trước đây và Hoàng biết nhiều người họ hàng bên nhà Thầy. Cô nhắc tới và hỏi anh về chú nào, dượng nào, o nào, cháu nào... có còn làm gì, ở đâu... Tôi nghe và hiểu vì sao họ hàng bên Thầy quý mến Cô, như tôi đã được nghe và được thấy.

Đời sống Việt, tâm hồn Việt đã rất sâu sắc và hình như đã hoà vào tâm hồn Nga trong Cô. Thế cho nên tôi mới kể thêm được một câu chuyện nhỏ nữa dưới đây.

Tháng 2 năm 2011, Thầy Nguyễn Tài Cẩn đường trần rẽ lối, quy tiên. Di cốt của Thầy được đưa về quê. Trước khi về Nghệ An, Thầy dừng nghỉ ở Hà Nội. Đón được Thầy từ sân bay về đến nhà, gia đình và người thân, học trò của Thầy, thiết linh sàng kính viếng. Giữa lúc mọi người bắt đầu thắp hương, chuẩn bị cắm vào bát hương, tôi bỗng thấy anh Nguyễn Tài Việt, trưởng nam của Thầy Cô, đi vội từ ngoài vào phòng, vừa đi vừa giở nhanh một cuộn giấy báo nhỏ, quấn kỹ, lấy ra ba cái chân hương đem từ bên Nga về, cắm vào bát hương trước, rồi việc thắp hương mới tiếp tục. Một cảm giác thật lạ thoắt lướt qua trong đầu tôi, không xác định được là gì, và không biết diễn tả thế nào... Có câu “phúc đức tại mẫu”. Tôi như mơ hồ thoáng thấy đằng sau anh, sau việc làm ấy của anh là cái bóng của mẫu thân anh - Giáo sư Nonna Vladimirovna Stankevich./.
 
 

PGS.TS Vũ Đức Nghiệu
(Trường Đại học KHXH&NV – ĐHQG Hà Nội)
                                                                               

 

Một điểm tiêm vắc - xin phòng Covid - 19 cho học sinh tại Đà Nẵng

UBND TP Đà Nẵng bác thông tin học sinh phải tiêm vắc xin Covid -19 mới được tham gia bán trú

GD&TĐ - Sở Thông tin - Truyền thông TP Đà Nẵng vừa phát đi thông báo với nội dung: hiện nay thành phố Đà Nẵng không có chủ trương, văn bản quy định về việc học sinh phải tiêm vắc xin phòng COVID-19 để được nhập học và tham gia dịch vụ bán trú tại các trường học trên địa bàn thành phố.
Lớp học xóa mù chữ ở Nghệ An. Ảnh NVCC.

Đưa chữ đến bản đuổi cái nghèo

GD&TĐ - Hơn 30 năm đứng trên bục giảng, trong đó có gần 10 năm gắn bó với các lớp học xóa mù ở huyện miền núi của Nghệ An nhưng cô Thanh vẫn không khỏi xúc động mỗi khi học viên mình giảng dạy biết đọc, biết viết. Họ dùng những kiến thức học được để áp dụng vào cuộc sống.
Chị Trần Thị Ngọc cùng chồng vượt cả trăm km từ thị xã Hoàng Mai (Nghệ An) vào Hà Tĩnh để săn cào cào.

Hà Tĩnh: Kiếm tiền triệu nhờ… 'tôm bay'

GD&TĐ -Hai vợ chồng anh Nguyễn Văn Cầu (thị xã Hoàng Mai, Nghệ An) săn cào cào trên những cánh đồng tại Hà Tĩnh, mỗi ngày kiếm được từ 800.000 đồng đến hơn 1 triệu đồng.