Dưới tán rừng Ngài Thầu
Lai Châu có hơn 265km đường biên giới tiếp giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), với 11 xã biên giới. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, song đất sản xuất hạn chế, đời sống một bộ phận nhân dân còn khó khăn.
Theo Đại tá Trương Minh Đức, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Lai Châu, từ thực tế đó, đơn vị xác định phát triển Sâm Lai Châu dưới tán rừng là hướng đi có tiềm năng, vừa tạo sinh kế bền vững cho người dân, vừa góp phần củng cố “thế trận lòng dân”, xây dựng nền Biên phòng toàn dân vững chắc.
Nhưng để một loại cây mới thực sự trở thành sinh kế, trước hết người dân phải biết cách làm. Năm 2024, Bộ đội Biên phòng tỉnh phối hợp tổ chức tập huấn, tham quan, trao đổi kinh nghiệm về kỹ thuật trồng và chăm sóc sâm; đồng thời chỉ đạo 12/13 đồn Biên phòng trồng thí điểm Sâm Lai Châu.
Đó cũng là bước đầu để cán bộ, chiến sĩ và người dân cùng làm quen với một loại cây trồng mới, tìm hiểu điều kiện sinh trưởng và tích lũy kinh nghiệm thực tế.
Từ kết quả bước đầu, ngày 10/4/2026, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh ban hành Kế hoạch số 697/KH-BCH, lựa chọn bản Ngài Thầu, xã Sì Lở Lầu làm địa bàn triển khai mô hình điểm theo phương châm: “làm chắc từng bước, hiệu quả đến đâu nhân rộng đến đó”.
Buổi hướng dẫn kỹ thuật ở Ngài Thầu không giống một lớp học thông thường. Người dân không ngồi trong phòng nghe giảng quá lâu. Cán bộ kỹ thuật và bộ đội biên phòng cùng xuống vườn, chỉ cho từng hộ cách chuẩn bị đất, xử lý thực bì, làm nhà giàn, bố trí cây giống và chăm sóc Sâm Lai Châu dưới tán rừng.
Có những nội dung phải cầm tay chỉ việc. Có những thao tác người dân phải trực tiếp làm mới nhớ. Với những hộ vốn chỉ quen với cây ngô, cây lúa, việc chuyển sang một loại cây dược liệu có yêu cầu kỹ thuật cao là một quá trình học nghề thực sự.
Gia đình bà Lầu Thị Cở ở Ngài Thầu là một ví dụ. Trước đây, cuộc sống chủ yếu dựa vào khoảng 280m² đất trồng ngô, lúa. Thu nhập mỗi năm của gia đình chỉ hơn 10 triệu đồng. Khi tham gia mô hình trồng sâm, bà bắt đầu được hướng dẫn những kỹ thuật sản xuất mà trước đó chưa từng thực hiện.
“Trồng cây mới thì phải học. Được cán bộ hướng dẫn từng việc, gia đình biết thêm cách làm và có thêm niềm tin để chăm sóc vườn cây”, bà Cở chia sẻ.
Theo báo cáo của Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, đơn vị đã phối hợp với cơ quan chuyên môn tổ chức một lớp tập huấn cho 120 học viên; 52 buổi tập huấn và 51 buổi tuyên truyền; 156 lượt cán bộ đến các hộ dân để tuyên truyền, vận động, hướng dẫn. Nội dung không chỉ xoay quanh kỹ thuật mà còn giải đáp những vấn đề người dân quan tâm như vốn đầu tư, thời gian thu hoạch, đầu ra sản phẩm và quyền lợi khi tham gia mô hình.
Theo đó, người dân được học cách chuẩn bị mặt bằng, làm nhà giàn, bố trí cây giống, chăm sóc và bảo vệ cây. Những nội dung còn chưa rõ được cán bộ hướng dẫn trực tiếp tại vườn. Đây là cách học nghề phù hợp với điều kiện sản xuất vùng cao: học lý thuyết vừa đủ, sau đó thực hành, làm đến đâu được hướng dẫn đến đó.
Nghề mới – cơ hội mới
Đến nay, mô hình tại Ngài Thầu có 54 hộ đăng ký tham gia, trong đó 27 hộ nghèo, 16 hộ cận nghèo; 100% là đồng bào dân tộc thiểu số. Với nhiều hộ, đây là lần đầu tiên họ tiếp cận một loại cây trồng có yêu cầu kỹ thuật cao như Sâm Lai Châu.
Từ lúc triển khai mô hình đến nay, cán bộ, chiến sĩ đã huy động 2.870 ngày công; người dân đóng góp 2.025 ngày công. Nguồn lực khoảng 4,5 tỷ đồng được huy động để xây dựng 89 nhà giàn, mái che với tổng diện tích khoảng 11.000m² và trồng 55.000 cây giống, tỷ lệ cây sinh trưởng khoảng 85%.
Tham gia mô hình, điều các hộ dân quan tâm không chỉ là số cây sâm được hỗ trợ mà là cách chăm sóc để cây có thể sinh trưởng. Với hộ nghèo, giá trị của đào tạo nghề nằm chính ở chỗ đó. Không chỉ trao cho họ một nguồn lực ban đầu, mà giúp họ biết cách sử dụng nguồn lực ấy.
Hiện mô hình trồng Sâm Lai Châu tại Ngài Thầu được triển khai theo cơ chế phối hợp giữa 6 chủ thể: Bộ đội Biên phòng, chính quyền địa phương, doanh nghiệp, nhà khoa học, hợp tác xã và nhân dân.
Trong đó, Bộ đội Biên phòng giữ vai trò nòng cốt, kết nối, tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ nhân công và giám sát quy trình sản xuất. Nhà khoa học tham gia chuyển giao kỹ thuật. Doanh nghiệp hỗ trợ giống, vật tư và hướng tới liên kết tiêu thụ. Hợp tác xã tổ chức liên kết sản xuất. Chính quyền tạo điều kiện về quy hoạch, đất đai, cơ chế. Người dân là chủ thể trực tiếp sản xuất và hưởng lợi.
Cách tổ chức này giúp hoạt động đào tạo không dừng lại ở việc “dạy trồng cây”. Người dân bắt đầu được tiếp cận với cách sản xuất có tổ chức, có quy trình và có định hướng thị trường.
Theo Đại tá Trương Minh Đức, quan điểm của mô hình là không hỗ trợ theo hướng “cho không”, mà “hỗ trợ để người dân tự làm, tự quản lý, tự phát triển và thụ hưởng”. Đây là điểm quan trọng đối với đào tạo nghề gắn với giảm nghèo. Bởi nếu người dân chỉ nhận cây giống, khi chương trình hỗ trợ kết thúc, sinh kế có thể khó duy trì. Ngược lại, nếu có kỹ năng, họ có thể tiếp tục chăm sóc diện tích của mình, trao đổi kinh nghiệm với các hộ khác và tham gia mở rộng vùng sản xuất.
Với người dân Ngài Thầu, đó là quá trình chuyển từ "được hỗ trợ" sang "biết cách làm". Từ những luống sâm đầu tiên chưa thể cho thu nhập ngay nhưng nghề đang được gieo cùng với cây. Và mỗi kỹ năng người dân học được hôm nay đang trở thành một phần hành trang để họ tự tin hơn trên con đường giảm nghèo. Đó có thể là giá trị quan trọng nhất của mô hình đối với hộ nghèo vùng biên.