Chuyển đổi mô hình canh tác thông minh và giảm phát thải
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp tại Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Đồng Tháp đã chủ động triển khai những bước đi chiến lược nhằm nâng cao năng lực cho các hợp tác xã nông nghiệp.
Thực hiện Đề án “Nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của hợp tác xã nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, giai đoạn 2021 – 2025”, địa phương không chỉ thay đổi quy trình canh tác mà còn kiến tạo một hệ sinh thái nông nghiệp bền vững, giúp nông dân vững vàng hơn trước những “biến đổi” của thiên nhiên.
Tại Đồng Tháp, biến đổi khí hậu (BĐKH) không còn là lời cảnh báo xa vời mà đã trực tiếp tác động đến hoạt động sản xuất của các hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) trên địa bàn. Tình trạng nắng nóng kéo dài, mưa trái mùa và áp lực dịch bệnh, xâm nhập mặn đã ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm và làm tăng đáng kể chi phí sản xuất.
Trước tình hình đó, UBND tỉnh Đồng Tháp đã ban hành Kế hoạch nhằm cụ thể hóa mục tiêu nâng cao năng lực chủ động áp dụng các biện pháp thích ứng, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và tận dụng cơ hội từ BĐKH.
Một trong những thành tựu nổi bật nhất trong thời gian qua là việc chuyển đổi từ tư duy sản xuất truyền thống sang kinh tế nông nghiệp bền vững. Tỉnh đã hỗ trợ các HTX áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là các quy trình canh tác theo tiêu chuẩn an toàn như VietGAP, SRP, và nông nghiệp hữu cơ.
Tiêu biểu là mô hình sản xuất lúa phát triển vùng nguyên liệu tại HTX DVNN An Thành, nơi áp dụng phương pháp sạ cụm giúp giảm lượng giống còn 80kg/ha và sử dụng phân hữu cơ để thay thế 10 - 20% lượng phân hóa học.
Tại HTX Thắng Lợi, nông dân đã tiên phong triển khai kỹ thuật ngập khô xen kẽ và lắp đặt ống cảm biến theo dõi mực nước để kiểm soát phát thải carbon. Những bước đi này không chỉ giúp tiết kiệm tài nguyên mà còn là nền tảng để nông sản Đồng Tháp tham gia vào chuỗi giá trị xanh toàn cầu.
Bên cạnh cây lúa, các mô hình cây ăn trái cũng ghi nhận chuyển biến tích cực. Các đơn vị như HTX DVNN Thống Nhất và Tịnh Thới đã triển khai sản xuất xoài theo hướng hữu cơ và mít theo tiêu chuẩn VietGAP trên quy mô lớn.
Để hỗ trợ giám sát dịch hại, tỉnh đã đầu tư nhiều Trạm giám sát sâu rầy thông minh, giúp cung cấp thông tin kịp thời cho người dân, từ đó tăng hiệu quả sản xuất rõ rệt. Đặc biệt, việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm phân hữu cơ với tỷ lệ áp dụng đạt từ 50% trở lên đã giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tạo thêm thu nhập cho lao động nông thôn thông qua các nghề mới như sản xuất nấm rơm hay ủ phân hữu cơ truyền thống.
Củng cố nguồn nhân lực và hạ tầng thích ứng bền vững
Song song với các giải pháp kỹ thuật, việc nâng cao “năng lực nội tại” cho con người là yếu tố then chốt. Công tác bồi dưỡng cán bộ và thành viên HTX được chú trọng với hàng trăm lớp tập huấn về quản trị rủi ro, chuyển đổi số và xây dựng chuỗi giá trị. Đáng chú ý là sự xuất hiện của tổ Khuyến nông cộng đồng, đóng vai trò cầu nối chuyển giao kỹ thuật và tư vấn liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.
Chương trình đưa lao động trẻ về làm việc tại các HTX cũng mang lại luồng sinh khí mới. Lực lượng này cùng với sự hỗ trợ từ các chuyên gia Đại học Cần Thơ, Đại học Bách khoa TPHCM đã giúp các HTX thực hiện chuyển giao công nghệ chế biến sâu, tiêu biểu là quy trình sản xuất nước cốt chanh mật ong với kinh phí 300 triệu đồng.
Về hạ tầng, tỉnh Đồng Tháp (trước sáp nhập) đã ban hành Nghị quyết nhằm hỗ trợ HTX đầu tư kết cấu hạ tầng và chế biến sản phẩm với tổng kinh phí thực hiện đạt hơn 61,6 tỷ đồng.
Nguồn vốn này được lồng ghép từ các chương trình mục tiêu quốc gia và vốn hỗ trợ đất trồng lúa để thực hiện các công trình thiết yếu như kiên cố hóa đường nước, xây dựng cống hở và nạo vét kênh mương nội đồng phục vụ sản xuất và phòng chống lụt bão.
Dù đạt được nhiều kết quả, ngành nông nghiệp Đồng Tháp vẫn đối mặt với không ít rào cản. Phần lớn HTX còn hạn chế về tài chính, chưa có chính sách đặc thù về khoa học công nghệ cho khu vực kinh tế tập thể. Chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường tiêu thụ thiếu ổn định, khiến việc nhân rộng diện tích VietGAP hay hữu cơ gặp khó khăn do giá bán chưa tương xứng với chi phí đầu tư.
Để giải quyết, tỉnh kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường ưu tiên phân bổ kinh phí để nhân rộng các mô hình kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh. Với quyết tâm cao, nông nghiệp Đất Sen Hồng đang từng bước khẳng định vị thế, không chỉ thích ứng mà còn phát triển mạnh mẽ trước biến động khí hậu.