Chuyện học và tình nghĩa thầy trò ngày xưa

GD&TĐ - Theo thang bậc của xã hội xưa, vị trí người thầy còn cao hơn cả cha mẹ (Quân, Sư, Phụ).

Lớp học ngày xưa với học trò đủ độ tuổi.
Lớp học ngày xưa với học trò đủ độ tuổi.

Song trong đời sống gia đình, vào những ngày lễ Tết, con cái có bổn phận báo hiếu trước tiên, “mồng Một Tết cha, mồng Hai Tết mẹ, mồng Ba Tết thầy”. Truyền thống tốt đẹp này có từ thời xưa thể hiện tinh thần hiếu thảo và tôn sư trọng đạo của dân tộc ta.

Chuyện học ngày xưa

Ngày xưa, các thầy đồ thường xuất thân từ một trong ba thành phần học thức trong xã hội. Hiển nho là những người thành đạt, làm quan thấp cũng cỡ Tri huyện, cao có thể Tổng đốc, Thượng thư, đến khi tuổi cao thì xin về vui thú điền viên. Ẩn nho là những kẻ sĩ đỗ đạt nhưng không ra làm quan, thích sống ẩn dật. Hàn nho những người có tài song không gặp vận may, thi mãi mà không đỗ. Khi trở về quê nhà, họ thường mở trường dạy học, dìu dắt những thế hệ sau. Gọi là “trường”, nhưng thực ra đó chỉ là một ngôi nhà như hầu hết nhà cửa của những người dân quê khác.

Vua Hàm Nghi thà để lộ chân tướng chứ không thất lễ với thầy.

Vua Hàm Nghi thà để lộ chân tướng chứ không thất lễ với thầy.

Nếu nhà thầy rộng rãi có sân trước sân sau thì trường học sẽ được mở ở đây. Còn nhà thầy khó khăn, chật hẹp thì thầy có thể đến nhờ một gia đình khá giả nào đó, để vừa dạy các quý tử của họ, vừa huy động thêm học trò từ làng trên xóm dưới.

Nơi dạy học của thầy có thể là một chái nhà hay một khoảng sân đủ rộng để chứa vài mươi cậu học trò nhiều hạng tuổi tác, từ cậu bé tóc còn để chỏm, đến chàng trai đã có vợ con.

Bước đầu, học trò xưa phải qua lễ nhập môn. Lễ diễn ra vào ngày lành tháng tốt trong năm, lúc đó người cha hay người mẹ đưa cậu con trai 6 - 7 tuổi đến nhà thầy xin thọ giáo. Lễ vật thường là mâm xôi, con gà, be rượu và các phụ huynh thường được thầy mời ở lại nhâm nhi, nhân tiện bàn về tướng mạo, tính tình của đồ đệ mới.

Theo phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn”, trong mấy tháng đầu, học trò chỉ được học cách cư xử sao cho hợp với lễ nghi, phong cách như khoanh tay, cúi đầu, chào hỏi, bẩm thưa, đồng thời làm những việc vặt trong trường như quét sân, quét lớp, mài mực cho thầy. Sau giai đoạn học lễ, cậu học trò mới bắt đầu học chữ thánh hiền.

Phan Thanh Giản dù làm quan nhất phẩm vẫn luôn tôn kính thầy dạy.

Phan Thanh Giản dù làm quan nhất phẩm vẫn luôn tôn kính thầy dạy.

Về chương trình học, hai bộ sách cơ bản mà thầy truyền dạy là Tứ thư (Đại học, Mạnh Tử, Luận ngữ và Trung dung) và Ngũ kinh (kinh Thi, kinh Thư, kinh Dịch, kinh Lễ và kinh Xuân Thu). Sau này, những người thầy đã soạn một số sách cho học trò mới nhập môn học trước khi vào các bộ sách kể trên, như: Nhất thiên tự (Một nghìn chữ), Tam thiên tự (Ba nghìn chữ), Ngũ thiên tự (Năm nghìn chữ), Sơ học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi…

Về văn bài luyện thi có thơ phú, kinh nghĩa, văn sách, chiếu. Trừ thơ phú thông dụng trong sinh hoạt hằng ngày, các loại văn khác chỉ dùng trong các kỳ thi.

Tại trường học, thầy thường ngồi trên chiếc giường có trải chiếu hoa, bày biện đủ tiện nghi như bút, nghiên, tráp, điếu. Học trò ngồi trên những chiếc phản kê sát nhau, có khi cúi người chép bài trên một chiếc chiếu trải lên nền đất. Giúp thầy quán xuyến mọi việc có hai anh trưởng tràng: Trưởng tràng nội phụ trách mọi việc trong phạm vi trường lớp, và trưởng tràng ngoại phụ trách những việc từ cổng trường trở ra.

Sáng sớm, khoảng 6 giờ học trò lục tục đến trường để trả bài, rồi mới về ăn cơm sáng và trở lại học lúc 9 giờ. Đến 3 giờ chiều mới được nghỉ.

Nhằm tạo điều kiện cho học trò có thể giúp cha mẹ việc đồng áng, hằng năm có ba kỳ nghỉ dài, gọi là ba cái Tết: Tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5), nghỉ một tháng, Tết cơm mới vào tháng 10 âm lịch cũng nghỉ một tháng và Tết Nguyên đán nghỉ hai tháng.

Việc đền đáp công ơn thầy dạy thường được thể hiện dưới hai hình thức: Một là học phí, mỗi năm cha mẹ học trò nộp làm một hay hai lần, tất cả chừng 4 quan tiền, nếu thầy dạy học ở một gia đình nào khác thì mỗi năm gia chủ may cho thầy hai quần, hai áo dài, ba áo cộc. Thứ hai là tiền Tết thầy vào các kỳ nghỉ trong năm. Trong những kỳ nghỉ này, nếu thầy dạy xa nhà thì tùy tâm, cha mẹ học trò có tiền Tết thầy để thầy mua sắm và về quê. Các học trò lớn thường kính cẩn tiễn chân thầy, có khi đưa thầy về đến quê nhà bình yên rồi mới quay trở lại.

Thầy giảng bài, trò chăm chú lắng nghe.

Thầy giảng bài, trò chăm chú lắng nghe.

Tình nghĩa thầy trò

Ngày xưa, chuyện học trò rủ nhau đi chúc Tết thầy là một mỹ tục trải dài nhiều thế kỷ. Điều mà họ thể hiện chủ yếu là tình cảm nồng nàn, lòng biết ơn đối với người đã có công truyền đạt cho họ sự hiểu biết, dạy cho họ biết sống xứng đáng với cương vị của kẻ sĩ trên đời.

Cũng vì vậy mà quà cáp học trò mang theo để Tết thầy chẳng có gì đắt giá, thường là một thúng gạo nhỏ, hoặc một cặp gà vịt, đường mứt, bánh trái, hoặc một vài quan tiền. Nhân những ngày đầu năm mới, thầy trò ngồi ôn lại với nhau những vui buồn của một năm cũ, thầy nhớ cái hay cái dở của từng em, nhắc nhở chúng học hành, làm việc tốt hơn trong năm mới. Tình thầy trò thể hiện vào những ngày đầu năm mới là một ấn tượng đậm nét trong tâm khảm các cậu học trò.

Trong lịch sử nước ta, nhiều kẻ sĩ khi bất phùng thời thường trở về làng quê lấy nghề dạy học làm thú vui cuối đời. Trong số những người như vậy, không thể không kể đến Chu Văn An (1292 - 1370).

Cụ tên là Chu An, được phong tước Văn Trinh công nên người đời sau gọi là Chu Văn An, đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ). Vì không được vua Trần Dụ Tông chấp thuận lời tâu xin trừng trị 7 nịnh thần, cụ trả ấn từ quan, về sống ở núi rừng Chí Linh, lấy hiệu là Tiều Ẩn, xem việc dạy học là lẽ sống cuối đời. Trong cuộc đời làm thầy, Chu Văn An luôn dạy học trò sống hợp với đạo lý thánh hiền, ai làm điều gì chưa đúng, cụ mắng không kịp che mặt, thậm chí còn không cho bước vào nhà.

Học trò cụ có hàng trăm người, nhiều người làm quan to như Hành khiển Phạm Sư Mạnh và Lê Quát, nhưng khi trở về làng thăm cụ cũng đều phải đứng khoanh tay hầu chuyện thầy. Các đời vua sau nghĩ đến nhân cách của một kẻ sĩ, một người thầy mẫu mực, đã cho thờ cụ trong nhà Văn miếu.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) nổi tiếng là vị quan trạng xuất sắc, có tầm nhìn xa trông rộng, từng dâng sớ lên vua Mạc hạch tội 18 kẻ lộng thần nhưng vua không nghe. Năm 1542, cụ từ quan về quê mở trường dạy học, trở thành thầy giáo nổi tiếng đương thời. Cụ cũng là thầy dạy của nhiều người nổi tiếng như: Nguyễn Quyện, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ… Dù hiển đạt, làm quan to nhưng họ đều kính trọng và vẫn thường xuyên lui tới Am Bạch Vân thăm viếng thầy.

Năm 1522, nghe tin thầy học là Lương Đắc Bằng qua đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm vượt quãng đường xa từ Hải Dương đến tận xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa để viếng tang. Sử sách chép rằng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chịu tang thầy trong suốt ba năm trời.

Trường hợp Nguyễn Bỉnh Khiêm làm thầy học của Lương Hữu Khánh cũng khá thú vị, vì Khánh chính là con trai thầy học của cụ là Lương Đắc Bằng. Không ai thấy rõ tài năng và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm hơn Lương Đắc Bằng nên vị Bảng nhãn họ Lương không ngần ngại giao con trai cho học trò dạy dỗ. Và quả nhiên, cụ đã không phụ lòng thầy học.

Năm 1538, Hữu Khánh đi thi Hội, đỗ thứ nhì nhưng bất phục nhà Mạc nên không dự tiếp kỳ thi Đình mà vào phủ An Trường xin quy thuận Trịnh Kiểm, người đang nắm mọi quyền hành của nhà Lê và được cử làm Thị lang. Trong suốt thời gian làm việc tại triều đình nhà Lê, cạnh vua Lê Anh Tông và chúa Trịnh Tùng, ông tỏ rõ là người nhiều mưu lược, lập nhiều công trạng trong cuộc chiến chống lại nhà Mạc, được thăng Binh bộ Thượng thư, tước Đạt Quận công.

Thời Nguyễn, cụ Võ Trường Toản cũng là một người thầy mẫu mực, sống ẩn dật, mở trường dạy học và học trò cụ nhiều người hiển đạt như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Phạm Đăng Hưng (làm quan đến chức Thượng thư). Dù hiển đạt, làm quan to nhưng học trò của cụ đều hết lòng tôn kính thầy.

Về những năm tháng dạy học trong đời cụ Võ, Hiệp biện Đại học sĩ Phan Thanh Giản nêu rõ trong bi văn soạn năm 1867, khắc trên mộ bia cụ tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre ngày nay: “Tiên sinh không ra làm quan nên đại khái không thấy được sự nghiệp.

Từ thuở tiên sinh lấy lối học nghĩa lý để giáo hóa, chẳng những đương thời đào tạo được nhiều bậc nhân tài, mà còn truyền thuật, giảng luận trau dồi về sau, tới nay dân gian trong sáu tỉnh Nam kỳ tỏ lòng trung nghĩa, cảm phát dám hi sinh đến tính mạng, xét ra tuy nhờ đức thân nhân của quân vương nhuần gội, cố kết nhân tâm, nhưng nếu không có công đức mở mang huấn dục của tiên sinh từ thuở trước thì làm sao có được nhân tâm như thế…”.

Nói đến Phan Thanh Giản, không thể không nhắc đến tinh thần tôn sư trọng đạo của cụ. Dù phẩm trật lên đến Hiệp biện Đại học sĩ, nhất phẩm triều đình, song mỗi khi đi kinh lý gần quê nhà thầy học cũ, cụ vẫn luôn kêu lính khiêng võng ghé lại thăm thầy. Võng còn ở cách nhà thầy một quãng khá xa, cụ đã bước xuống, đi bộ vào nhà thầy vấn an.

Ngay cả vua, cũng hết lòng tôn kính người dạy mình học. Đầu tháng 11/1888, sau hơn ba năm sống gian khổ giữa rừng thiêng nước độc ở Quảng Bình để nêu cao ngọn cờ Cần Vương, vua Hàm Nghi sa vào tay giặc Pháp. Trong những ngày bị áp giải về cửa Thuận An, ông nhất mực không chịu nhận mình là vua. Nhưng bữa nọ, trong đám đông đứng hai bên đường, nhà vua nhác thấy bóng dáng người thầy học, liền vội vàng nghiêng mình kính cẩn cúi đầu chào, thà để lộ chân tướng đang cố tình giấu giếm hơn là thất lễ với thầy học cũ. Qua đó mới thấy, tình nghĩa thầy trò ngày xưa sâu đậm biết bao.

Tình thầy trò ngày xưa không chỉ thể hiện ở phương Đông. Sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Dự bị (xuất bản năm 1935), bài số 51: Học trò biết ơn thầy có kể câu chuyện như sau: Ông Carnot xưa là một ông quan to nước Pháp, một hôm nhân lúc rảnh việc về chơi quê nhà. Khi ông đi ngang qua tràng (trường) học ở làng, trông thấy ông thầy dạy mình lúc bé, bấy giờ đã đầu tóc bạc phơ, đang ngồi trong lớp dạy học.

Ông ghé vào thăm tràng và chạy ngay lại trước mặt thầy giáo, chào hỏi lễ phép mà rằng: “Tôi là Carnot, thầy còn nhớ tôi không?”. Rồi ông ngoảnh lại khuyên bảo học trò rằng:“Ta bình sanh, nhất là ơn cha, ơn mẹ ta, sau ơn thầy ta đây, vì nhờ có thầy chịu khó dạy bảo, ta mới làm nên sự nghiệp ngày nay”.

____________________________________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Việt Nam văn học sử yếu – Dương Quảng Hàm (NXB Văn học - 2019).

Vũ Trung tùy bút – Phạm Đình Hổ (NXB Trẻ và NXB Hồng Bàng - 2012).

Xã hội Việt Nam thời Lê - Nguyễn – Lê Nguyễn (NXB Hồng Đức - 2020).

Tin tiêu điểm

Đừng bỏ lỡ